Tìm Hạnh Phúc Qua Lời Phật Dạy

                              Tái bản lần thứ nhất, có bổ sung và sửa chữa.   

THAY LỜI TỰA (tái bản lần một)

    Mỗi lần đọc cuốn “Tìm hạnh phúc qua lời Phật dạy” là những câu thơ bài kệ cứ vang trong đầu tôi . Những lời dạy vô cùng hay và sâu sắc không chỉ đơn thuần là  văn vần dễ thuộc, dễ nhớ, mà trên hết hết là ý nghĩa, nội hàm đằng sau các câu thơ bài kệ… đó là những lời răn dạy khai trí, là ngọn đuốc soi sáng tâm ta , trí tâm đồng khai sáng, giúp ta tìm lại được sự an lạc, bình an của chính mình. Khi ngâm nga các câu thơ trong trí, những gút mắc trong lòng tôi dần dần tan biến, và tôi hiểu ra rằng mọi thứ sẽ thật đơn giản, tốt đẹp khi tâm mình luôn giữ được sự thanh tịnh, lạc quan, xả bỏ mọi chấp trước, ưu tư phiền não trong lòng.

   Thầy tôi đã nói rằng: “ Tu cả đời nhưng ngộ tức thời”. Đặc biệt đối với những ai đang tiến bước trên con đường tu luyện, tìm đến bến bờ giác ngộ mà nắm rõ những lời dạy trong đó và biết hành theo ắt sẽ thành tựu quả vị. Bất kì ai thường xuyên hành tụng, thường xuyên ghi nhớ và thực hành ứng dụng các lời thơ vào sinh hoạt hàng ngày, tôi tin rằng chắc chắn chúng ta sẽ tìm được cho chính mình hạnh phúc thật sự. Bởi:

vào biển mê

giúp muôn tình

vô sở đắc

chẳng thấy mình

chẳng phân người

chẳng vướng thời

chẳng kẹt chỗ

vì chẳng vướng

nên không ngại

vì chẳng ngại

nên không lo

vì chẳng lo

nên tự tại”

   Vì quá tâm đắc những lời dạy trong cuốn “Tìm hạnh phúc qua lời Phật dạy” nay chúng tôi xin được tái bản lại lần nữa để quý độc giả nào có duyên may được đọc, sẽ cảm nhận và hành theo lời Phật dạy để tìm thấy chân hạnh phúc cho chính mình.

    Những gì chia sẻ đây âu cũng là sự hiểu biết, cảm nhận của riêng mình. Hi vọng nhưng ai hữu duyên đọc được, nghiền ngẫm rút ra được cho bản thân những bài học hay và bổ ích.

Trân trọng

Ngọc Minh


LỜI ĐẦU SÁCH

         Cuốn sách này được viết ra dựa trên bản BátNhã Ba –La – Mật - Đa Tâm Kinh phiên âm Hán Việt vốn rất quen thuộc trong Phật giáo Việt Nam, chúng tôi diễn giải từng câu, từng đoạn, thậm chí từng chữ một theo sự hiểu biết của chúng tôi.

       Trong nội dung sách này, chúng tôi in nguyên văn chữ Hán của bản kinh này, sau đó là phần phiên âm Hán Việt; kế đó là phần hành tụng.

     Trong phần hành tụng, chúng tôi diễn giải ý của từng câu từng chữ theo lối văn vần để quý vị dễ thuộc nằm lòng (tụng). Từ đó, trong sinh hoạt hằng ngày quý vị sẽ ngộ được ý giải trong lời văn vần đó; và ngược lại khi lời tụng này nằm trong đầu quý vị, sẽ khiến quý vị bớt được những hoang mang phiền não của thực tế cuộc đời (hành). Đó là lý do tại sao chúng tôi gọi là Bát Nhã Hành Tụng, tức là thuộc lòng lý Bát Nhã và ứng dụng trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

     Chúng tôi viết tập sách này cũng nhằm để nhắc nhở bản thân mình luôn tỉnh giác trước những cám dỗ mê hoặc của cuộc đời và với những ai có duyên khi đọc tập sách này, chúng tôi hi vọng cũng sẽ được như vậy. Hoặc giả ai đó coi việc đọc sách như để giải trí thì hãy cứ coi những lời trong sách này là những bài vè để lẩm nhẩm nghêu ngao trong những lúc trà dư tửu hậu.

       Nếu qua cuốn sách này mà giúp quý vị mở được phần nào những gút mắc trong cuộc sống, giải tỏa bớt những phiền não khổ đau có thể có trong sinh hoạt hằng ngày của mỗi người. thì chúng tôi cũng đã thỏa mãn ý nguyện của mình lắm rồi.

     Trong tập sách này ngoài phần nguyên văn (âm Hán Việt) là lời kinh của Phật, tất cả những phần còn lại là do sự hiểu biết riêng của chúng tôi mà viết ra (tâm đắc thể hội) nên chắc chắn còn giới hạn và có nhiều khiếm khuyết. Kính mong các bậc cao minh chỉ giáo thêm.

                                                                                                 Trân trọng !

                                                                                                25-9-2012

                                                                                                     (10-8-Nhâm Thìn)

                                                                                         

 Thiên Tùng – Nguyễn Trung Long.

                (Đại Lãn)

 


MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識亦復如是。舍利子。是諸法空相。 不生不滅。不垢不淨不增不減。是故空中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無明。亦無無明盡。乃至無老死。亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛.故說般若波羅蜜多咒即說咒曰:揭帝揭帝 般羅揭帝般羅僧揭帝菩提莎訶.

 

 

 

 

                  PHIÊN ÂM HÁN VIỆT

 Quán tự tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

 Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-Đề Tát-Đỏa y Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa cố tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn, Tam thế chư Phật, y Bát-Nhã Ba-Mật-Đa cố đắc A-Nậu-Đa-La Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề.

Cố tri Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-Đế Yết-Đế, Ba-La Yết-Đế, Ba-La-Tăng Yết-Đế, Bồ-Đề. Xóa-Ha.

 

li ng

lời Phật dạy

ai dám khinh

bát nhã tâm kinh giải u minh

sắc là không

không là sắc

đọc mà không hiểu đừng thắc mắc

giữ tâm không

lặng tánh lòng

thõng tay vào chợ cứ ung dung

bát nhã tụng

rồi thực hành

phá hết tâm ma giải thoát nhanh

tự tâm cột

tự tâm mở

ba đời chư Phật ra từ khổ

vượt qua được

nhờ trí minh

yết đế ba la mặc sức mình

đâu là cấu

đâu là tịnh

 xét lại tự tâm được nhẹ khinh

hạnh Bồ tát

hạnh giải thoát

nếu không Bát nhã sẽ hành ác

trí Bát nhã

tánh suốt thông

mười phương chư Phật thảy chung đồng

vào biển trí

giải tâm mê

trí tâm đồng chuyển ắt trở về

lại không lại

về không về

chẳng trí chẳng mê sẽ hồi quê

hãy tự giác

hãy tự tu

càng đọc càng hành hết mê ngu

đọc chẳng hiểu

xin đừng buồn

bòn phước thêm nhiều giải nghiệp luôn

một phần phước

tiêu phần nghiệp

phước tăng nghiệp giảm sẽ thông suốt

khéo giữ đức

lập hạnh lành

giúp người giúp vật giải thoát nhanh

đồng tâm đồng hiểu

dị tâm nan hành.

                                                 trân trng

BU AN  ĐO TRÀNG, 30/01/2012

                                                         ( 08/1/Nhâm Thìn)

Thiên Tùng – Nguyễn Trung Long.

 

 

 

 

 

BÁT NHÃ HÀNH TỤNG

*******

Ma ha bát nhã ba la mt đa

 tâm kinh

ma ha

hạnh cao đức trọng

quỷ thần phục tòng

bao dung rộng khắp

tâm trí viên dung

tu chẳng thủ đức

như đàn đứt dây

tu chẳng giới hạnh

như chim gãy cánh

vẽ hổ thành khuyển

tu cũng như không

 

bát nhã ba la mt đa

trí tâm không ngăn ngại

chẳng tranh đấu khoe tài

một lòng lo sửa tánh

viên mãn sẽ có ngày

trí suốt thông

tâm bao dung

tánh hòa đồng

lòng hòa ái

chẳng phân hai

thường giữ hạnh

đức chẳng suy

tâm kinh

vượt qua bao khảo nghiệm

tâm thanh chẳng vướng tình

tám gió lay chẳng động

tâm tịnh trí không không

tâm chuyển kinh

kinh khai tâm

tâm kinh

minh minh

linh linh

giải giải

mãi mãi

không ngại

quán t ti

tâm suốt thông

trí chẳng ngại

hòa trong đời

chẳng phân hai

tròn giới hạnh

đức giữ hoài

lợi trong ngoài

ta người cùng đạt

chẳng ngăn ngại

thương thì hại

thông thì minh

ý rõ phân

hết vướng tình

danh tự tại

b tát
trong sửa mình

ngoài giúp đời

trong ngoài đồng tiến

vượt khỏi mê tình

mê ắt si

lụy ắt nguy

thương mà hại

chẳng bằng không thương

giúp người mà hại người

chẳng bằng không giúp

liệu sức mình

mà giúp đời

mới là thông suốt

hành thâm

nói làm và suy nghĩ

nhân quả khéo xét suy

không vướng chữ tình si

vào biển mê không ngại

chẳng cầu danh

lòng tự tại

chẳng mong lợi

tánh ung dung

trí xét tột cùng

suốt thông ba cõi

đức giữ không rời

thời thời tự tại

bát nhã ba la mt đa

thông suốt vượt thế tình

nhờ trí huệ phát sinh

một lòng lo rèn đức

sửa hạnh lập công trình

vượt hết thế tình

tâm trí nhẹ khinh

mặc khen chê

chẳng yêu ghét

đức tồn chẳng khuynh

giới tròn chẳng phạm

đức tròn hạnh đủ

bát nhã ba la

 
   

 

 

 

 

 

 

thi

sống tùy thời

tu mọi lúc

lập hạnh mọi nơi

giữ đức chẳng tổn

nói năng giữ mực

làm việc không thiên

suy tư chẳng vướng tình

thời thời luôn tỉnh thức

đức hạnh khéo phát sinh

thời thời thế thời thôi

 

 

chiếu kiến

soi chẳng trệ

thấy chẳng vương

soi chiếu vượt thế thường

đức hạnh mãi viên phương

mắt thấy tâm bất động

tai nghe lòng chẳng vương

thấy nghe không ngăn ngại

vượt hết mọi tai ương

ngũ un giai không

trong xét không thấy mình

ngoài suy chẳng thấy người

trong ngoài đồng vắng lặng

hằng có mà như không

trí tâm đồng thông suốt

hạnh đức đồng thăng hoa

giúp mọi nhà

là giúp ta

hòa ái

nhẫn nại

tự giải

vô ngại

 

 

đ nht thiết kh ách

vào khổ mà không khổ

trong mê chẳng bị mê

trí tâm thường tỉnh giác

có chi gọi khổ mê

bồi đức lập công hạnh

sẽ thoát mọi ê chề

 

xá li t

tâm thường vô sở hữu

chẳng sợ ngoại vật mê

không không không tất cả

xá lợi tử quay về

trí thông

tâm đạt

đức dày

hạnh cao

ma nào dám khảo

quỷ nào dám khinh

sc bt d không

có nhiều mà chẳng vướng

nghe nhiều mà chẳng mê

thấy nhiều mà chẳng động

làm nhiều mà không vương

nhờ thông đạt tỏ tường

không - sắc ấy nào vương

không bt d sc

hằng buông bỏ tất cả

lại không thiếu chút nào

hằng nhường người một bước

lại tiến vượt lên cao

nhẫn đến vô khả nhẫn

ắt sẽ vượt khỏi rào

không không mà có đó

lúc có vẫn hằng không

ấy gọi không là sắc

sc tc th không

có – không  vẫn mặc kệ

không - có chẳng để tâm

có – không là nhân ngã

chẳng có cũng chẳng không

mà vẫn thường có không

tùy thế duyên hành sự

vẫn mãi rỗng rang lòng

không tc th sc

chịu buông bỏ

chịu hy sinh

chẳng thấy buông

chẳng thấy mình

có gì gọi bỏ

có gì hy sinh

lập ngôn lập đức

giữ vẹn hạnh mình

vào đời chẳng nhiễm

tâm trí thinh thinh

th tưởng hành thc

thọ nhận chẳng vương mang

tưởng suy chẳng động lòng

hành xử trong thiện hạnh

thức tánh chẳng tình si

dic phc

định tâm dừng ý ngăn lòng

quy về một mối không không mới rồi

hạnh đức phải khéo tô bồi

quy chân phản bổn một đời khéo tu

lấy nhẫn giải nghiệp

đại bi giúp đời

chẳng phân ta người

quy về một mối

đức hạnh tròn đầy

tâm trí thẳng ngay

 

 

như th

việc đời như vậy mà thôi

có chi phiền não để rồi lụy thân

tâm vô sở hữu chẳng phân

thị phi nhân ngã chẳng cần đeo mang

nhất tâm chánh niệm rõ ràng

lấy hạnh làm giới, đức càng thăng hoa

phải lo gắng chí vậy mà

như vậy cũng chính như là vậy thôi !

xá li

buông bỏ mọi chuyện đời

mà vẫn sống trong đời

thân không khác người đời

tâm trong đời chẳng mê

xả lợi

bỏ danh

không tình

từ bi rộng khắp

không mình không ta

bốn bể là nhà

chẳng ở đâu xa

vượt qua vướng mắc

lợi danh đồng hòa

t

lỗi nhỏ chẳng xem thường

xét suy từng chút

bỏ hết lợi danh

tình kia cũng mất

tâm không chứa chấp

trí hằng sáng soi

nhân quả soi đời

tử kia ai biết

th

mắt thấy vậy là vậy

tai nghe là nghe thôi

tạm cưỡng cầu mà nói

thấy - nghe - nói vì đời

chẳng vì lợi riêng tôi

chư pháp không tướng

tướng hình là ảo viễn

tâm chấp nên vướng đời

tùy thời - không, hiển hiện

sắc tướng mãi không thôi

do tâm mà hiển hiện

do trí mà tô bồi

nơi đây là không tướng

nơi đó là hữu hình

tướng không hoặc là có

chứng ngộ ắt rõ tình

bt sanh bt dit

chẳng sanh cũng chẳng diệt

siêu việt khỏi thế gian

rồi lại hằng sanh diệt

tiến mãi chẳng vương mang

bất sanh lại bất diệt

diệt diệt lại sanh sanh

sanh diệt diệt sanh mãi

trí tâm thông rõ ràng

muôn pháp là như vậy

thức tỉnh khỏi bàng hoàng

 

bt cu bt tnh

dơ sạch ai rõ thông

thời – không, lớp trùng trùng

đâu dơ ? đâu là sạch ?

chân lý mãi không cùng

đây sạch dơ nơi kia

bởi đức nên phân chia

đức càng cao càng sáng

kém đức ắt chia lìa

bt tăng bt gim

giảm tăng tăng giảm mãi

chịu luân hồi đổi thay

đức trọng nào tăng giảm

giảm tăng bởi chẳng ngay

theo tình nên phân cách

kém trí phải rớt đài

th c

trách người, không trách ta

ấy thật là kém đức

trách ta chẳng trách người

ấy mới là thủ đức

trách ta lẫn trách người

ấy gọi là lập hạnh

chẳng trách ta lẫn người

ấy gọi là viên dung

tất cả một chữ đồng

có – không hằng suốt thông

không trung

trong không mà thường có

đức hạnh luôn đủ đầy

bao dung không vướng bận

lợi lạc khắp muôn loài

nhẫn không thôi

bi chẳng rời

ý thanh tịnh

chẳng nhiễm đời

vô sc vô th tưởng hành thc

thân chẳng quá dung dưỡng

lòng chẳng quá tham mê

ý chẳng hề rối loạn

làm việc chẳng vương mang

trí tuệ luôn soi sáng

có gì đâu mà ham

 

*****

chấp thân nên khổ

muốn nhiều nên phiền

tưởng nhiều nên loạn

làm bừa nên hư

biết nhiều nên mê

nói không để phá

thông rồi chẳng không

tự nhiên hành sự

 

*****

vì chấp lấy có mình

bao phiền não nảy sinh

danh lợi tình đắm nhiễm

đức trọng sẽ dần khinh

 

*****

vì thế nói không thân

tâm thanh tịnh lần lần

danh lợi tình buông bỏ

đức sẽ được viên phương

vô nhãn nhĩ t thit thân ý

vì còn thấy có người

nên tật đố không thôi

lửa sân thiêu gan ruột

một kiếp lại luân hồi

 

*****

thấy người như không thấy

ý hằng thanh tịnh vậy

vì người làm lợi ích

nên ta người không phân

 

*****

mắt thấy tâm không động

tai nghe lòng không mê

mũi ngửi ý không vướng

miệng nói chẳng thị phi

thân chạm tánh không loạn

ý tưởng tình chẳng si

 

******

thấy rồi thôi

nghe rồi thôi

ngửi rồi thôi

nói rồi thôi

làm rồi thôi

nghĩ rồi thôi

có việc thì làm

không việc thì nghỉ

muôn sự tùy duyên

chẳng chi nhọc phiền

có có không không

mọi sự an yên

 

vô sc thinh hương v xúc pháp

bỏ hết tướng ta người

còn vướng tướng chúng sinh

là còn nhiều vọng tưởng

phiền não chừng nào khinh

 

******

vào sắc mà không nhiễm

trong thinh chẳng khởi tình

nơi hương không mê loạn

gặp vị chẳng phân vân

xúc chạm không mê lầm

tâm khởi hằng rõ biết

là không – vô sở hữu

vô nhãn gii nãi chí vô ý thc gii

không chưa tột cùng không

sanh diệt còn vướng lòng

phiền não còn vi tế

đường giải thoát đừng mong

 

*****

còn sanh còn vướng diệt

chẳng diệt lấy gì sanh

sanh diệt tùy thời chuyển

tự tại chẳng diệt sanh

 

*****

đức tồn không thất thoát

hạnh toàn chẳng sai lầm

đức hạnh làm giới thể

vượt qua khỏi diệt sanh

 

******

vào đời không nhiễm đời

cùng muôn loại khóc cười

người mê ta hằng tỉnh

giúp đời mãi không thôi

 

 

*****

mười tám cõi xuống lên

lấy đức hạnh làm nền

trong lòng luôn thanh tịnh

lợi lạc khắp muôn tình

 

vô vô minh dic vô vô minh tn nãi chí vô lão t dic vô lão t tn

 

vì mê nên luân hồi

nghiệp chuyển mãi không thôi

hiểu rồi nên bồi đức

huệ sáng thoát luân hồi

 

*****

mười hai duyên điên đảo

ai biết đường nào ra

cứ mê là mê mãi

chừng nào khỏi phiền não

vô minh vô vô minh

ai rõ biết bằng mình

tự tu hằng tự ngộ

giữ đức lập công trình

già chết ai chẳng chết

chết mà được vô sinh

vô sinh ai biết sinh

vượt thoát khỏi mê tình

mười hai duyên xoay chuyển

trí ngu từ đó triển

ngu thời luân hồi mãi

trí thời giúp muôn tình

hết già rồi hết chết

vì mê nên mải miết

hạnh cao nên giải thoát

đức trọng nên bất diệt

 

vô kh tp dit đo

 

buông bỏ hết muôn duyên

mà sự vẫn còn triền

làm sao qua tam giới

giữ tâm thanh tịnh thiền

 

*****

vào khổ để học bài

duyên khởi hằng rõ biết

lý sự diệt chẳng diệt

đạo hạnh vẫn tự nhiên

 

*****

khổ mà không khổ

khởi mà không khởi

diệt không thấy diệt

đạo ấy vẫn như nhiên

 

*****

khổ mà có đức nên không thấy khổ

tập mà lợi chúng nên thường tập

diệt hằng sanh ích nên không diệt

đạo chẳng chấp đạo nên đạo tồn

vô trí dic vô đc

 

bỏ sự còn vướng lý

viên mãn sao hoàn mỹ

tu thân theo chánh niệm

ấy mới là tuyệt kỹ

 

*****

không trí sao phá mê

có trí sao thanh tịnh

không - có tùy duyên khởi

trí ấy là vô trí

 

*****

vô trí mà mê chẳng nên vô

có trí mà tịnh vẫn nên có

có trí vô trí tùy duyên khởi

tu đạo thường hành được vô sự

 

*****

theo thời thuận cảnh vẫn tự nhiên

bồi đức lập công chẳng não phiền

dĩ vô sở đắc nên sở đắc

tự tu tự ngộ hết đảo điên

 

*****

danh chẳng vướng

lợi chẳng ham

tình chẳng mê

đức hằng giữ

hạnh hằng tu

trí như ngu

lợi muôn loài

chẳng phân hai

dĩ nhiên theo

dĩ nhiên vậy

dĩ vốn dĩ

dĩ dĩ dĩ

bí!...bỏ!...rõ!...có!...tùy duyên

vô s đc

 

không chỗ được

mà vẫn được

chẳng thấy mất

vẫn thường mất

sở đắc vô sở đắc

còn tranh còn thắc mắc

ngã nhân chưa buông bỏ

sao là vô sở đắc

được mà không giữ nên hằng được

mất mà không phiền nên chẳng mất

đức hằng tồn

hạnh hằng tu

được tùy duyên

mất tùy duyên

được mất chẳng phiền

vô vô sở đắc

c b đ

 

bồ đề không gốc vẫn khai hoa

thanh tịnh trí tâm vượt ái hà

tùy duyên lợi chúng lòng không động

bát nhã ba la mật đa ma ha

 
   

 

tát đa

 

tự mình tạo nghiệp tự mình khai

thức giác từ đây rán học bài

rèn mình sửa đức soi gương hạnh

bát nhã tâm kinh phải học hoài

 

*****

lập hạnh… chẳng vương

giúp đời… chẳng vướng

thật lòng khắc kỷ

với người bao dung

tu mãi mãi

tiến vô cùng

vượt chướng ngại

đức viên dung

cùng… biến…thông…minh…

y

 

y giáo phụng hành

y đức lập ngôn

y hạnh khắc kỷ

y nhiên dĩ thị

y nhơn học bài

y kỷ tự xét

y đời tự tại

y thời thức tâm

 

*****

giúp người cứu vật kết thiện duyên

bỏ mặc khen chê chẳng não phiền

trong lo luyện nhẫn bồi hạnh đức

ngoài kết duyên lành với muôn tình

 

 

bát nhã ba la mt đa

 

xét việc đời

thông lý đạo

trí thông thạo

lòng tịnh thanh

vượt muôn tình

dứt phiền não

nhận khảo đảo

thuốc trị tâm

thoát mê lầm

tâm tự tại

muôn sự không ngại

chẳng tình riêng

không lợi mình

không sở hữu

hạnh giữ tròn

đức không mất

c tâm vô quái ngi

 

nơi danh vọng

tâm không ngại

chốn tình cảm

lòng chẳng vương

chỗ lợi lộc

ý chẳng vướng

hạnh thiện lành

tánh không mê

nói lời phải

miệng không ngại

theo thời theo lúc

lúc làm lúc nghỉ

luôn giữ từ bi

sống trong giới hạnh

không thấy gò bó

lỗi nhỏ vẫn sám

thiện nhỏ vẫn làm

chửi đánh vẫn cam

lòng càng cảm tạ

vô quái ngi c

 

vào biển mê

giúp muôn tình

vô sở đắc

chẳng thấy mình

chẳng phân người

chẳng vướng thời

chẳng kẹt chỗ

vì chẳng vướng

nên không ngại

vì chẳng ngại

nên không lo

vì chẳng lo

nên tự tại

vô hu khng b

 

không chấp thân nên chẳng lo

không chấp người nên chẳng buồn

không chấp danh nên tự tại

không chấp không nên còn mãi

siêu việt thời nên sống hoài

chẳng danh lợi sắc tài

tám gió chẳng thổi lay

hằng thông hằng minh

thường rõ tâm mình

có gì vô minh

vin ly điên đo

 

không ham danh

nên chẳng vướng danh

chẳng thích lợi

nên chẳng vướng lợi

không mê tình

nên chẳng đắm tình

chẳng thủ xả

nên chẳng nhân ngã

không thị phi

nên không khẩu nghiệp

chẳng điên đảo

nên thường thanh tịnh

chẳng cầu mong

nên không thất vọng

chẳng tiếc quá khứ

chẳng trông tương lai

tự nhiên hiện tại

điên đảo viễn ly

suy!

mng tưởng cu cánh

 

còn thấy mình tu

là chưa thật tu

còn thấy thủ đức

là chưa đủ đức

còn thấy lập hạnh

là hạnh chưa cao

còn thấy có rào

là còn sợ hãi

 

*****

còn bay còn nhảy

là còn gây nghiệp

còn trông còn đợi

là còn phiền não

càng mong kết quả

kết quả càng xa

lòng càng cầu tìm

tìm hoài chẳng gặp

chấp nhận điên đảo

lại chẳng đảo điên

cứu cánh, phương tiện

chẳng có tư riêng

lấy chi mộng tưởng

lòng không chấp vướng

không sướng chẳng khổ

không nhục chẳng vinh

không cảm chẳng tình

không nhân không ngã

không thủ không xả

lòng không tất cả

sự vẫn thường hằng

thế sự lăng nhăng

trí hằng định tĩnh

biển tình sóng cuộn

tánh vẫn an nhiên

mộng tưởng đảo điên

còn gì trong đó

tâm không - bỏ ngỏ

thiện sự hằng làm

niết bàn

 

lỗi nhiều ắt đọa

đức nhiều thăng hoa

ấy là hai nẻo

người tu khéo chọn

giữ đức lập hạnh

chỉ mong sửa tánh

tánh nhẹ tâm an

lòng thanh trí tịnh

thiện sự quân bình

tùy thời mà nói

tùy lúc mà làm

chẳng vọng chẳng tham

giúp người lập hạnh

là giúp mình thành

chẳng mong quả lành

quả lành tự hiện

trí hằng phân biệt

tâm vẫn an nhiên

bao dung cùng khắp

tình chẳng tư riêng

được không tự mãn

nên vẫn hằng được

mộng tưởng niết – bàn

niết – bàn ảo huyễn

không cầu niết – bàn

niết – bàn tự hiện

quân bình tự nhiên

 

 

tam thế chư Pht

 

từ vô lượng

bi vô biên

hỷ vô cùng

xả vô tận

bước vào biển khổ

phổ độ muôn tình

hằng giúp chúng sinh

tâm mình chẳng ngại

giúp không thấy giúp

cho không thấy cho

cứu không thấy cứu

làm chẳng thấy làm

tham mà chẳng tham

mê vẫn chẳng mê

chẳng sợ ê chề

chẳng phân nhân ngã

một lòng hỷ xả

tám gió sợ chi

học chữ từ bi

muôn đời hỷ xả

đức hạnh thăng hoa

gọi là chư Phật

Phật mà chẳng Phật

gọi là Giác giả

giác mà chẳng giác

tự mình sáng tỏ

y bát nhã ba la mt đa

 

nương huệ trí

vượt biển mê

nhờ đức lớn

sẽ thăng hoa

lập hạnh lành

giúp tất cả

chẳng ta người

không khen chê

 

 

c đc a nu đa la tam miu tam b đ

 

vì không thấy có nên thường có

vì tâm không mê nên trí sáng

vì lòng không loạn nên tánh thăng

vì tình không nhiễm nên siêu việt

làm muôn hạnh lành không kể công

giữ tròn giới hạnh không tự mãn

lợi lạc muôn tình không mong thưởng

chẳng cầu danh, trí thường sáng

chẳng mong lợi, dũng thường hằng

chẳng vướng tình, bi thường tồn

người được là mình được

người mất là mình mất

giúp người sửa tánh là giúp mình lập hạnh

c tri bát nhã ba la mt đa

 

biết nhiều mà không vướng

có nhiều mà không ỷ

hiểu nhiều mà không loạn

tỉnh nhiều nên không mê

đức nhiều vẫn thường bồi

hạnh toàn vẫn thường lập

thanh tịnh

tự tại

vô ngại

không nói mà thường làm

không hay mà thường biết

không hiểu mà thường rõ

không tình mà thường cảm

không ứng mà tự ứng

không nguyện vẫn tự nguyện

không giác vẫn tự giác

vượt thế tình

siêu ba cõi

ai thoát khỏi

y bát nhã

qua tất cả

th đi thn chú

 

lòng kiên định

tâm chánh niệm

bỏ hết tham cầu

thoát ra dục giới

vượt hết thế tình

thần chú uy linh

chẳng còn dục tính

thường niệm thường hành

thường hành thường giải

thường giải thường thông

thường thông thường đồng

thường đồng thường cảm

thường cảm thường ứng

ứng vô sở ứng

bát nhã ma ha

th đi minh chú

 

không phân ta người

nên chẳng khen chê

không vướng lợi danh

nên không tật đố

tình riêng không nhiễm

trí hằng sáng soi

vượt qua sắc giới

nhờ chú đại minh

minh nhờ thông

thông nhờ suốt

suốt bởi nguồn

nguồn nơi tâm

tâm là Đạo

tâm là Phật

tâm là minh chú

bát nhã ma ha

 
   

 

th vô thượng chú

 

thần chú cao tột

dứt hết nghĩ suy

tâm chẳng vướng gì

trí luôn an tịnh

tánh vẫn thường minh

lòng bi vẫn đủ

hỷ xả vô cùng

vượt vô sắc giới

vẫn không thấy vượt

chẳng an mà an

không định mà định

thần chú vô thượng

bát nhã ma ha

 

th vô đng đng chú

 

thần chú siêu tuyệt

chẳng thể nghĩ bàn

vũ trụ mênh mang

nhẹ nhàng siêu xuất

thường còn chẳng mất

thường trí chẳng mê

thường về chẳng lại

thường thông chẳng ngại

càn khôn vĩ đại

chẳng ngại chân đi

đẳng chú uy nghi

dễ gì đạt thấu

thượng trí mong cầu

dễ gì có được

vô trí không cầu

tự có hằng nhiên

siêu xuất siêu nhiên

phi thường vĩ đại

linh chú vô ngại

bát nhã ma ha

năng tr nht thiết kh

 

khổ đau tự tâm sanh

phiền não do ý hành

khổ đau phiền não dứt

nhờ ý tâm siêu tuyệt

 

*****

vô trụ vô chấp

vô sở hữu

vô vô sở hữu

thiệt không lại không

thiệt có lại có

không không có có

có có không không

trí minh tâm tỏ

tự diệu tự ngộ

từ bi rộng mở

còn chi là khổ

còn khổ còn diệt

không khổ diệt gì

 

 

chơn thit bt hư

 

chơn đức tự siêu

chơn hạnh tự giải

chơn tu tự ngộ

chơn hành tự giác

chơn ý tự minh

chơn tình chẳng nhiễm

chơn lý chẳng suy

siêng đi sẽ đến

 

*****

thiệt tu sửa tánh

thiệt hành tự tâm

thiệt ngộ tự minh

thiệt mình chẳng mất

thiệt tình chẳng ngại

thiệt tế vô biên

c thuyết bát nhã ba la mt đa chú

 

rèn lòng sửa tánh đắc Phật Tiên

chẳng nhiễm lợi danh chẳng não phiền

biển tình sóng cuộn không ngụp lặn

nương vào huệ trí giải oan khiên

 

*****

thật tu

nương trí

giả tu

cậy tình

chân thiện

theo hạnh

chân hạnh

theo giới

chân giới

theo tâm

chân tâm

vô sở hữu

ba la mật

siêu tam giới

vượt càn khôn

giữ xác hồn

nương đức hạnh

đức thường tồn

hạnh thường cao

khó nào cũng đạt

khổ nào cũng qua

 

 

tc thuyết chú viết

 

nói làm nghe nghĩ

không để đức suy

thanh tịnh từ bi

tức thì đạt nhẫn

nhẫn vô khả nhẫn

siêu việt càn khôn

vĩnh viễn thường tồn

tâm vô sở hữu

trí vô quái ngại

lòng không – tự tại

phải trái rõ phân

ý không vọng động

tình không đa mang

làm không khoe khoang

thân được nhẹ nhàng

không màng vinh nhục

vượt hết thế tình

tâm chú oai linh

yết đế yết đế

chịu đi sẽ đến

chịu tìm sẽ gặp

trí hằng sáng

không trở ngại

tâm hằng tịnh

giải mê tình

ý cương quyết

được siêu sinh

thường sửa hạnh

phiền não khinh

qua tất cả

cũng do mình

 
   

 

ba la yết đế

 

chấp nhận mọi hoàn cảnh

tâm vẫn thường tự tại

hy sinh mọi quyền lợi

lòng vẫn không e ngại

chuyên giữ đức lập hạnh

tánh vẫn thường tự xét

bỏ nơi tâm

không bỏ cảnh

không nơi lý

có nơi sự

tâm cảnh không phân

lý sự vẫn đồng

tâm chuyển cảnh

lý dắt sự

thông sẽ minh

minh sẽ ngộ

ngộ không vướng ngộ

tiến bộ vô cùng

yết đế ba la

ba la tăng yết đế

 

không

tuyệt không

hằng có

tuyệt có

thường không

tùy duyên tùy cảnh

tùy lý tùy sự

tùy nhân tùy quả

không gượng ép

chẳng truy cầu

không mong được

chẳng sợ mất

không cầu đắc

chẳng sợ loạn

giữ đức lập đức

bồi hạnh lập hạnh

đức hạnh viên dung

siêu xuất tột cùng

b đ tát bà ha

 

tâm chẳng vướng gì

thân đi vào chợ

vượt mọi e sợ

nhắc nhở thế tình

bát nhã tâm kinh

tự mình giác ngộ

tự soi tự rõ

tự hành tự độ

tự độ độ tha

tha tự hài hòa

ba la yết đế

bồ đề tát bà ha.

 

******

 

 

  Bát nhã hành tng tng yếu

 

bát nhã tâm kinh

phổ độ muôn tình

mỗi người trình độ

tự giác tự minh

tự hành tự tiến

bao gồm bốn chữ:

chân hnh

thit hành

bt đon

hư như

“chân thit bt hư”

thượng căn đốn ngộ

hành khởi giải tuyệt

k!

trung căn tiệm tu

phân biệt thiện ác

định rõ mê ngu

tiệm hành tiệm tiến

hạ căn ngu phu

đọc xong buồn ngủ

phương tiện giải sầu

kết duyên cùng Phật

luân hồi vài kiếp

Phật tiếp siêu sinh.

 

li kết

bát nhã trí

đại bi tâm

trí tâm xuyên suốt hết mê lầm

đi đường thẳng

đức hạnh dày

bao nhiêu ma nạn sẽ giải vây

theo lý trí

dựa từ tâm

lý tình thông suốt chẳng ngoại xâm

luôn thủ đức

luôn giới hạnh

đức hạnh viên dung chẳng tranh cạnh

yết đế ba la

dũng mãnh vượt qua

mới là chơn trí

không theo cảnh

chẳng mê tình

dùng tâm chuyển cảnh sẽ siêu sinh

bồ đề không gốc

gương sáng chẳng đài

bổn lai ai rõ

ắt được liên đài

bồ đề tát bà ha.

trân trng.

(Thiên Tùng – Nguyễn Trung Long)

 

 

 

        

BÁT NHÃ HÀNH TỤNG

SƠ GIẢI

lời Phật dạy

ai dám khinh

bát nhã tâm kinh giải u minh

Lời Phật là lời của tự tánh, giác ngộ, lời vô thinh, lời của lá rơi nước chảy, lời của gió thét mưa gào,...Muốn nghe được những lời này cần phải nội tâm thanh tịnh, buông bỏ tất cả phiền não, tâm hoàn toàn tịch tĩnh, lúc đó ta sẽ nghe được tiếng mà người đời gọi là tiếng lòng của mình (còn gọi là trực giác).

Muốn thế, cần phải tập hạnh xả bỏ, không chấp trước, chẳng mong cầu, thường xuyên vắng lặng, đón nhận âm thinh vô tướng này.

    Ai dám khinh? Chính chúng ta, những người mê trần, nhiễm trần, đắm chìm trong danh lợi sắc tài, chạy theo tiếng nói của dục vọng mà quên đi lời nói thanh tịnh của Phật tánh, từ đó chúng ta mới bị luân hồi sáu nẻo.

Khi tâm thanh tịnh, tùy theo mức độ thanh tịnh, thanh nhẹ chừng nào thì ta dễ dàng bắt được luồng sóng cực tịnh của vũ trụ chừng ấy. Luồng sóng cực tịnh ấy phát ra từ tầng tối cao của vũ trụ, đó chính là làn sóng tư tưởng của Phật, Chúa, Thượng đế,… hay một đấng tối cao nào mà ta tin tưởng. Các Ngài là đại từ, đại bi, luôn thương xót, muốn cứu vớt chúng sanh, muốn làm cho chúng sanh giác ngộ để trở về (phản bổn quy chân). Vì thế các Ngài đã bủa xuống những làn sóng tư tưởng thanh nhẹ này để bất kỳ chúng sanh nào có lòng muốn trở về chốn cũ, sẽ bắt được làn sóng đó, nghe theo lời chỉ dạy mà tìm về hạnh phúc trường cửu. Các Ngài không phân biệt chúng sanh ai là thiện hay ác, ai là trí hay ngu, chỉ cần có tâm muốn quay về thì các Ngài chuyển giải. Ví như trong kinh Pháp Hoa có nói, cơn mưa đổ xuống không từ một cây cỏ nào, mỗi cây sẽ đơm hoa kết trái cho riêng mình theo duyên số…

Thế thì vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để được thanh tịnh, mở thiên môn, tiếp đón được luồng sóng cao siêu ấy ?

   Như đã nói ở trên, ta cần phải có tấm lòng tha thiết hướng thượng, muốn trở nên thiện lành, muốn siêu xuất tam giới, muốn viên mãn,…lúc đó “tu tại tự kỷ, công tại sự phụ”, các Ngài sẽ tùy theo nhân duyên, nghiệp quả của chúng ta mà hướng dẫn tu tập qua âm thinh vô tướng của các Ngài.

Chỉ có Bát Nhã Tâm Kinh mới giải được u minh cho chúng ta. Bát Nhã là lý trí, là trí tuệ, Tâm là tình thương, từ bi, bác ái. Trí và Tâm phải xuyên suốt nhau, Bi và Trí phải hòa thông nhau thì chúng ta mới không bị vấp ngã trong danh lợi sắc tài, lúc đó tâm ta mới thanh tịnh, tiếp đón lời Phật, khai phá u minh.

Trí là Bình Đẳng Tánh trí, là sự phán xét công bình, khách quan, do thức Mạt na chuyển thành. Về mặt tu tập theo khoa huyền môn chánh tông chính là trung tim chân mày (huyệt Ấn Đường). Khi khai mở được trí này thì danh lợi sắc tài sẽ khó lòng ảnh hưởng đến ta.

Tâm là Tình Thương, Từ Bi, là tình yêu vô sở hữu, chỉ cho mà không nhận,…Theo khoa huyền môn, chính là trung tim bộ đầu (huyệt Bách Hội), cái tâm Từ Bi này không dễ dàng mà đạt được, phải tu luyện dần dần, phải khai mở được Trí Tuệ, Trí càng mở thì tâm Từ Bi càng lớn. Khi Trí Tuệ đạt tới trình độ “Đại Viên Cảnh Trí” thì Tâm mới đạt tới trình độ Bồ Đề Tâm (Phật Tâm).

Xét ở trình độ thế gian, thì Trí và Tâm phải bổ túc cho nhau, lý trí phải đi đôi với tình cảm thì việc giải quyết mọi vấn đề của thế gian mới được hài hòa, tốt đẹp. Có Trí mà thiếu Tình Thương, người ta sẽ khô khan, lãnh đạm thờ ơ trước sự đau khổ của thế nhân; có Tình Thương mà thiếu Trí sẽ ủy mị, chìm đắm trong thất tình, bị lục dục sai sử, suốt đời sẽ khổ đau phiền não. Cần phải biết dùng Trí để điều phục cái Tình của mình, dùng cái Tình để làm bớt đi cái khô khan, lãnh đạm của Trí. Có thế, đời ta sẽ hạnh phúc, người và vật chung quanh ta cũng được an vui.

 

sắc là không

không là sắc

đọc mà không hiểu đừng thắc mắc

    Sắc là Không – ta nhìn cái bàn thì thấy nó là một thực thể cố định nhưng nếu có kính phóng đại lên thì thấy rằng cái bàn là một tập hợp vô số các hạt tử đang chuyển động. Vậy cái thực thể bàn mà mắt ta nhìn thấy là “Sắc”, mà thực ra lại không phải vậy…đó chính là không. Mọi hình tướng trên thế gian này đều thấy vậy mà không phải vậy. Vì thế, nhà Phật gọi là giả huyễn.

   Không là Sắc – vạn sự vạn vật trên thế gian này là các hạt tử cực vi (gần như là không có gì hết) tập hợp lại theo một khuôn mẫu nào đó mà nhà Phật gọi là duyên nghiệp, tạo thành muôn hình muôn trạng của thế gian (nhà Phật gọi là giới hữu tình và vô tình). Từ cái “không là gì” hết, theo duyên nghiệp mà chuyển thành cái “là gì”, đó chính là “Không là Sắc”.

    Một người có đầy đủ tình tiền danh vọng, nhà lầu xe hơi, vợ đẹp con khôn,… mà vẫn không bị vướng vào đó, tâm luôn thanh tịnh, lời nói việc làm, suy tư luôn thuận theo Trí – Tâm thì người ấy đã biểu hiện tinh thần “Sắc là Không”.

    Một người nghèo khổ không có chút sở hữu gì trên thế gian này nhưng tâm vẫn luôn móng vọng, mong cầu, khởi đủ phiền não trong tâm , đó là biểu hiện ý nghĩa của “Không là Sắc”.

     Sống trong ngũ dục danh vọng, lợi lộc, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ, ta cần phải biết lúc nào cần “Không”, lúc nào cần “Sắc” để lợi mình lợi người, thế mới có hạnh phúc.

    Có tiền nhiều biết bố thí giúp đời, không tích trữ, đó chính là “Sắc là Không”, ta cần phải biết lúc nào cần “Không”.

    Biết sử dụng của cải vật chất thế gian làm lợi ích cho đời, biết nương nhờ, thầy bạn, thiện hữu tri thức để làm phương tiện thăng hoa đạo đức, phát triển Trí Tâm, đó chính là “Không là Sắc”. Sắc hay Không, bản thân nó không lợi cũng chẳng hại, chỉ do ta biết ứng dụng mà thôi.

    Khi đọc mà không hiểu, nếu khởi tâm suy tư đủ thức, bực dọc khó chịu thì ta đã bị cái “Sắc” làm nhiễu loạn. Cần phải biết “đừng thắc mắc”, lúc đó tâm an trí sáng, sự giác ngộ sẽ đến với ta. Ví như khi giải một bài toán mà tâm ta hoang mang e sợ, không biết có giải được hay không,… thì ta sẽ không bao giờ tìm được đáp án.

    Ta phải làm thế nào để giải quyết đây ?

    Phải đọc bài toán cho kỹ, nắm chắc các dữ kiện, tìm mối liên hệ nhân duyên giữa các dữ kiện đó, giữ tâm thanh thản, không e ngại, đáp án sẽ khởi lên trong tâm. Đó là ta “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Dù gặp bất kỳ tình huống nào trong sinh hoạt, nếu giữ được “bình tĩnh” thì ta sẽ giải quyết được mọi vấn đề.

     “Đọc mà không hiều đừng thắc mắc” đó là ta đang thực hành thiền theo công án, lúc đó đầu óc ta sẽ vắng lặng, tâm ta sẽ thanh tịnh theo thời gian tu tập và khi đủ cơ duyên sự khai ngộ sẽ đến.

    “Đọc mà không hiều đừng thắc mắc” cũng là chỉ trạng thái đúng đắn của người tu khi đang tụng kinh. Tụng kinh chính là tu luyện, khi tụng kinh miệng đọc, tai nghe, tâm duyên theo lời kinh tiếng kệ,… lâu dần nghiệp chướng tiêu tan thì trí tuệ sẽ đến.

     Khi tụng kinh cũng chính là biểu hiện của chữ “Giới”. Tâm duyên theo lời kinh không còn vọng tưởng, tạp niệm là biểu hiện của chữ “Định”. “Định” lực tăng dần theo thời gian thì “Huệ” trí phát sinh.

     Trong Thiền tông, khi ngồi đả tọa là đang luyện chữ Không. Khi luyện “Không” đạt đến tuyệt “không” thì các cảnh giới hiện ra,… đó là “Sắc”. Khi đang trong cảnh giới “Sắc” đó hành giả phải “mặc kệ” nó, không chấp trước thì “Sắc” mới thành “Không”… sự tu luyện sẽ đi đúng đường, không bị thiên sai, lệch sang tà đạo.

    Còn nếu như đang trong cảnh giới “Sắc” mà khởi tâm, ví dụ thấy cảnh giới ma thì hãi sợ, thấy cảnh giới trang nghiêm thù thắng thì khởi mong cầu,… thì người tu sẽ bị cám dỗ, rơi vào trạng thái mà người ta gọi là “tẩu hỏa nhập ma”.

    Dùng Sắc đối trị Không để thoát khỏi hôn trầm.

    Dùng Không đối trị Sắc để thoát khỏi cám dỗ.

    Trong sinh hoạt giữa thế gian, ví dụ lúc bị người chửi mắng (Sắc) ta phải giữ tâm bình tĩnh để giải quyết vấn đề, phải biết giữ tâm bình thản, lắng nghe để thông cảm được đối phương (đó là dùng Không để đối trị).

   Tóm lại, trong giao tiếp giữa người với người, ta khéo biết lúc nào Sắc, lúc nào Không thì dễ thành tựu.

giữ tâm không

lặng tánh lòng

thõng tay vào chợ cứ ung dung

     Tâm không là tâm không vướng mắc, không sở hữu, không có bất kỳ một tình nào trong thất tình khởi lên, giữ được tâm này, lòng ta sẽ an lạc thanh tịnh; nhờ sự an lạc thanh tịnh này ta sẽ thấy được và hiểu được ngoại cảnh mà câu thông với nó.

      Khi một người hay vật mà ta tiếp xúc qua ngũ quan, nếu lúc đó ta giữ được tâm không này, ta sẽ hiểu biết tâm tư nguyện vọng của họ, đến mức cao ta sẽ hiểu biết tâm tư của giới vô tình (đất, đá, tường, vách...) đây là công năng Tha Tâm Thông. Ngoài ra, với tâm thức này, ta còn có thể liên hệ, câu thông được với các sinh mệnh cao cấp (Phật, Chúa, Thánh, Thần) để học hỏi và tấn hóa, từ đó gia nhập, hòa vào sinh hoạt của thế gian để: một là huân dưỡng trạng thái tâm thức này (tâm không), hai là để dẫn dắt chúng sanh được tiến bộ như ta.

    Với tâm thức này, ta dễ hòa đồng với mọi người để hiểu họ, quý thương và giúp đỡ họ. Vì lúc này tâm không của ta có đầy đủ Từ, Bi, Hỷ, Xả (tứ vô lượng tâm). Hay nói ngược lại, muốn có được tứ vô lượng tâm cần phải “giữ tâm không, lặng tánh lòng”, từ đó mới đủ năng lực để “thõng tay vào chợ cứ ung dung”.

 

 

bát nhã tụng

rồi thực hành

phá hết tâm ma giải thoát nhanh

     Làm việc gì cũng phải suy xét cho thấu tình đạt lý rồi mới thực hiện thì sẽ đạt được kết quả tốt. Phải biết học, phải biết lắng nghe, phải biết tìm hiểu, rồi suy nghĩ cặn kẽ, nhập tâm vấn đề, sau đó ứng dụng vào thực tế, nhờ thực tế ta rút ra kinh nghiệm, tích lũy kiến thức, trải nghiệm tâm linh, hiểu ta hiểu người hiểu hoàn cảnh xung quanh thì đời sống ta sẽ thoải mái, tâm hồn ta sẽ nhẹ nhàng, chẳng còn phiền não lo toan, bao nhiêu tâm ma sẽ tự nhiên rơi rụng.

    Ví như ta tụng thuộc lòng tập sách này suy nghĩ cặn kẽ từng lời từng chữ, khi va chạm thực tế, ta sẽ biết cách ứng xử sao cho phù hợp với chân lý: “CHÂN THIỆN NHẪN”.

Khi người đang chửi mắng ta, ta đừng vội phản ứng, hãy nhẫn nhịn lắng nghe, đặt mình vào hoàn cảnh của họ để hiểu biết, thông cảm tại sao họ lại làm như vậy, và từ đó áp dụng nguyên lý yêu thương để hóa giải hận thù.

tự tâm cột

tự tâm mở

ba đời chư Phật ra từ khổ

    Ai ăn cơm người ấy no, ai uống nước người ấy được giải khát, tâm làm thân chịu, sướng do mình, khổ cũng do mình. Biết yêu đời, đời sẽ yêu lại; tranh đấu với đời, đời cũng đấu tranh lại, nhân quả báo ứng chẳng sai chạy.

    Khi gặp bất cứ vấn đề gì, ta nên quay lại tự hỏi mình, tìm gút mắc nơi mình đừng đổ lỗi cho người, hãy nhìn thẳng vào khuyết điểm, lỗi lầm của mình, không nên để cái bản ngã che lấp sự thật. Tâm làm thì thân chịu, can đảm nhận lỗi và sửa lỗi, sám hối ăn năn, cải quá tự tân thì tâm linh ta sẽ tiến hóa, đời ta sẽ bớt nhiều nghiệp chướng, ta sẽ thấy cuộc đời tươi đẹp lên, cái tươi đẹp này tự nội tâm mà có, ví như ăn chén cơm rau mà lòng thanh thản thì đó là hạnh phúc. Ăn cơm gà cá gỏi mà lòng chứa đầy những hận thù phiền não thì hạnh phúc ở đâu ra ?

    Sinh ra ở đời là có nghiệp, nghiệp này di lưu từ quá khứ, do sự tạo tác qua tư duy, lời nói cùng hành vi của mình và tổ tiên tích lại trong các đời trước và cũng do bản thân mình gây ra trong hiện tại. Muốn được hạnh phúc phải biết giải nghiệp cho bớt dần đi. Muốn thế phải làm việc tốt và chịu khổ. Khi chấp nhận khổ đau từ vật chất đến tinh thần (ví như chấp nhận lời mắng chửi, thiệt hại vật chất mà không buồn lòng) là ta đang giải nghiệp. Tiêu một phần nghiệp chướng là bớt một phần đau khổ. Muốn chịu được khổ phải biết học nhẫn, nơi nào cũng nhẫn, trong nhà nhẫn với vợ con, cha mẹ, anh em, chồng vợ; ra ngoài nhẫn với bà con chòm xóm, luôn lấy thiện đãi người chấp nhận thiệt hại cho mình, nhất định không làm tổn hại cho người. Nhẫn với người thương mình, nhẫn cả với người ghét mình; nhẫn nhịn với thời tiết nắng mưa, nóng lạnh (không than trời ơi nóng quá! Lạnh quá!,…) làm được như vậy mới thật gọi là nhẫn. Khi nhẫn tới trình độ “vô sanh nhẫn” tức là nhẫn không còn thấy tướng nhẫn và tâm nhẫn thì ta đã đạt được trình độ Phật.

 

vượt qua được

nhờ trí minh

yết đế ba la mặc sức mình

    Làm việc gì cũng suy xét đến hậu quả của nó, trước khi nói hay làm cần suy xét thiệt hơn, có thiệt hại cho người hay không? có gây cho người phiền não hay không? có hợp với CHÂN THIỆN NHẪN không?... Được như vậy ta đỡ tạo thêm nghiệp, có trí tuệ là phải biết phân biệt thiện ác tốt xấu. Nếu không biết phân biệt thiện ác tốt xấu thì chẳng được gọi là người có trí. Nhờ trí tuệ mà tâm linh được thăng hoa, nhờ trí tuệ mà ta và người được hạnh phúc, nhờ trí tuệ mà ta dễ dàng vượt qua chướng ngại, hãy nhớ lấy!!!

đâu là cấu

đâu là tịnh

 xét lại tự tâm được nhẹ khinh

    Còn thấy dơ, sạch là còn vướng mắc, chưa thấu lý đạt tình, đống rác dơ đối với con người nhưng lại là cao lương mỹ vị đối với dòi bọ. Đừng vì thấy dơ mà ngoảnh mặt chê bai, đừng vì cho là sạch mà vội vàng tìm đến, luôn giữ tâm an tịnh, dơ cũng kệ mà sạch cũng kệ, đừng để động tâm, nếu để tâm động là bị nghiệp chuyển, còn bị nghiệp chuyển là còn luân hồi. Đừng thấy xấu mà chê, thấy tốt mà mê, mọi sự đều là nhân duyên, đừng vì xấu tốt mà mất đi an tịnh nơi tự tánh.

    Luôn xét lại tâm mình, luôn đề cao tâm tính, luôn lấy thiện đãi người, luôn lấy nụ cười mà chan hòa khắp chốn, ta sẽ được an lạc.

 
   

 

 

 

 

hạnh Bồ tát

hạnh giải thoát

nếu không Bát nhã sẽ hành ác

    Muốn giúp đời cứu người phải biết lượng sức mình. Không biết bơi mà nhảy xuống nước cứu người thì đúng là… đồ ngu. Làm việc gì cũng phải lượng sức mình, biết lúc nào cần nhu thì nhu, khi cần cương thì cương. Cương nhu đúng thời đúng lúc thì luôn đạt kết quả tốt.

    Khi giúp đời giúp người phải biết vận dụng trí tuệ và lòng từ bi; nếu không, coi chừng thương người lại trở thành hại người, giúp người lại trở thành phá người. Hãy dựa theo tiêu chuẩn CHÂN THIỆN NHẪN mà hành xử, đem lại lợi lạc cho người, đó mới thật sự là Bồ Tát cứu khổ, cần phải trui rèn đức hạnh, hun đúc lòng từ cho đến vô cùng vô tận thì mới xứng đáng là Bồ Tát.

trí Bát nhã

tánh suốt thông

mười phương chư Phật thảy chung đồng

   Phật là gì? Phật là quân bình, là tự tại, là giải thoát, là thanh tịnh. Vậy con người muốn thành Phật thì cứ theo đó mà làm. Trong sinh hoạt hàng ngày, luôn lập công bồi đức, tích đức hành thiện, thủ đức lập hạnh, nhẫn hòa giải nghiệp. Lấy lòng từ bi đối đãi với người và vật. Chấp nhận mọi hoàn cảnh để tiến tu, hy sinh mọi quyền lợi, không vướng mắc, luôn cân nhắc trong lời nói, hành động và suy tư thì không muốn thành Phật cũng sẽ thành.

 

 

vào biển trí

giải tâm mê

    trí tâm đồng chuyển ắt trở về

    Hãy rèn luyện trí tuệ bằng cách đọc Kinh Pháp rồi ứng dụng qua thực tế, từ đó tâm từ bi sẽ mở. Trí Tâm đồng chuyển giúp ta phá hết mê mờ nơi mình và nơi người, giúp ta và người phản bổn quy chân, thấy được mặt thật của chính mình, thường xuyên nhớ nơi đỉnh môn (huyệt Bá Hội), mắt ngó thẳng nơi ấn đường là một kỹ thuật giúp ta phát triển trí - tâm.

lại không lại

về không về

chẳng trí chẳng mê sẽ hồi quê

   Linh hồn là bất diệt, bởi mặc lấy xác thân tứ đại mà chịu luân hồi khổ não, nếu sớm nhận biết được tự tánh của mình vốn thanh nhẹ, chẳng nhiễm ô, nếu thấy biết linh hồn của mình vốn ở trên cao tầng vì mê nên đọa, thức giác sửa tâm giải nghiệp thì mình sẽ trở về gốc của mình, không phải bị rơi rớt ở nơi nào khác.

hãy tự giác

hãy tự tu

càng đọc càng hành hết mê ngu

     Người trí nghe lời phải liền hoan hỷ làm theo, sửa đổi tính hạnh, hiểu rõ nhân quả báo ứng, mỗi ngày dần xa đường ác gần nẻo thiện, siêng đọc Kinh Pháp, siêng lợi mình lợi người, lấy Pháp làm đuốc soi đường, lấy giới luật làm phương tiện để nâng cao tâm tánh, lấy sự thanh tịnh làm thước đo sự tiến bộ của phần hồn, biết bồi đức thủ đức, lâu dần nghiệp chướng tiêu tan thì còn gì là mê ngu.

đọc chẳng hiểu

xin đừng buồn

bòn phước thêm nhiều giải nghiệp luôn

một phần phước

tiêu phần nghiệp

phước tăng nghiệp giảm sẽ thông suốt

    Khi coi Kinh Pháp mà chưa liễu giải được ý nghĩa, cũng đừng phiền não vì đó là nghiệp chướng che đậy. Hãy làm thiện cho nhiều, trong lòng thường xuyên sám hối ăn năn tự tỉnh, bố thí, phóng sanh, cứu vật giúp đời, giúp người cô quả, đỡ người nghèo khó,…Ngày tháng dần qua, thường làm như vậy nghiệp chướng sẽ tiêu, phúc đức tăng dần, không đọc Kinh Pháp mà cũng hiểu, cũng ngộ được tự tánh huống chi là đọc.

khéo giữ đức

lập hạnh lành

giúp người giúp vật giải thoát nhanh

đồng tâm đồng hiểu

dị tâm nan hành.

   Giữ đức là giữ gìn tâm tánh, gặp cảnh nghịch ý trái lòng cũng không phiền não than van trách móc, ở nơi thuận duyên đẹp ý cũng chẳng đắm mê sa ngã, luôn tỉnh giác nhìn lại tâm mình…Làm được như vậy, đức của mình sẽ không mất, nghiệp cũng không tăng.

    Mọi điều thiện cố gắng làm, mọi việc ác nhất quyết tránh, luôn làm lợi cho đời cho người dẫu mình bị thiệt hại, đó là lập hạnh.

   Biết thủ đức, lập hạnh và luôn giữ tâm hướng về mục đích tối hậu là giải thoát viên mãn, đó mới là đường tu theo chánh đạo. Ta người đồng giải thoát mới gọi là viên mãn.

   Ai cùng chí hướng sẽ hiểu những lời trên; ai khác tâm tưởng sẽ thấy khó làm khó theo.

   Dẫu đồng hay khác lập trường, nếu được đọc qua sách này cũng là duyên phận.

 

trân trng

BU AN  ĐO TRÀNG, 30/01/2012

( 08/1/Nhâm Thìn)

(Thiên Tùng – Nguyễn Trung Long.)

 

      

      

 
   

 

Ma ha bát nhã

ba la mt đa

tâm kinh

   ma ha

hạnh cao đức trọng

quỷ thần phục tòng

bao dung rộng khắp

tâm trí viên dung

tu chẳng thủ đức

như đàn đứt dây

tu chẳng giới hạnh

như chim gãy cánh

vẽ hổ thành khuyển

tu cũng như không

     Khi người ta nâng cao tâm tính, không để danh lợi sắc tài làm mê đắm khiến phiền não thất tình lục dục nổi lên thì trên đỉnh môn xuất hiện một đường thiên xích phóng lên thiên thượng. Đường thiên xích này là thước đo đạo lực của người tu tập; thiên xích cao bao nhiêu, đức hạnh của người đó cao bấy nhiêu. Khi có đường thiên xích trên đỉnh môn, người ta dễ câu thông với các tần số năng lượng cao của vũ trụ, lúc đó mọi chúng sinh trong vũ trụ đều kính ngưỡng quy phục, vì thế mới nói “hạnh cao đức trọng quỷ thần phục tòng”.

     Khi nâng cao tâm tính thì tâm hồn ta rộng mở, trí tuệ ta phát sáng, lòng ta không còn những tư tưởng eo hẹp nhỏ nhen nữa mà tràn ngập trong ta một tình thương vô bờ bến.

    Đức hạnh là quan trọng nhất đối với chúng ta, không có đức hạnh thì khó lòng tiến hóa cao; tìm hạnh phúc trường cửu mà không thủ đức thì không thể có được hạnh phúc đó, nếu có hạnh phúc thì cũng không bền lâu. Thế cho nên, phải biết giữ đức lập hạnh, tức là phải học chữ Nhẫn, không cho khởi bất kỳ ý niệm dục vọng nào trong tâm tưởng khi va chạm với ngoại cảnh. Không khởi bất kỳ ý niệm dục vọng trong tâm không có nghĩa là vô tri vô giác chai lỳ như gỗ đá, mà là ta hiểu rõ thấy rõ mọi sự việc, biết đâu là thiện, đâu là ác...biết thiện cần nên làm, biết ác cần phải tránh, nhưng tâm vẫn vắng lặng an tịnh. Phải luôn giữ tâm thanh tịnh, tâm vô sở hữu trong sinh hoạt, trong giao tiếp, có thế chúng ta mới mong được viên mãn như ý.

    Kỹ thuật để làm chủ lấy tâm thức của mình là phải thường xuyên trụ tâm nơi trung tim chân mày (huyệt ấn đường) và trung tim bộ đầu (huyệt bá hội).

    Trung tim chân mày là nền tảng cơ bản, “người tìm hạnh phúc thật sự” phải khởi hành từ đó. Trung tim bộ đầu là đích đến, là cảnh giới hạnh phúc trường cửu cần đạt, không thể đốt giai đoạn.

   Đầu tiên phải hai mắt nhắm, ý ngó thẳng nơi trung tim chân mày, tưởng nhớ nơi trung tim bộ đầu; lâu ngày hai điểm đó sẽ trì nặng và phát sáng, trung tim bộ đầu sẽ câu thông với năng lượng vũ trụ, lúc đó ta thấy có cảm giác như rút lên từ trung tim bộ đầu. Thường xuyên 24 tiếng được như vậy (trung tim bộ đầu được rút nhẹ) thì con đường thoát khỏi tam giới đã dành sẵn cho ta.

    Khi trung tim chân mày và trung tim bộ đầu khai mở (thấy trì nặng, phát sáng, rút nhẹ,...) thì tánh tình của ta từ ô trược nặng nề sẽ trở nên thanh cao trong sạch, danh lợi tình không còn làm mê đắm nữa.

     Để dễ dàng nhớ nghĩ thường xuyên đến hai điểm trên, ta có thể niệm Kinh, niệm Phật, niệm Chú,… mà ý tưởng đến hai điểm đó, lâu dần năng lượng sẽ tụ lại và đạt đến mức thường xuyên trì nặng phát sáng; khi ngủ ta cũng có thể làm như vậy và sẽ được đi sâu vào giấc ngủ ngon không có mộng mị.

bát nhã ba la mt đa

trí tâm không ngăn ngại

chẳng tranh đấu khoe tài

một lòng lo sửa tánh

viên mãn sẽ có ngày

trí suốt thông

tâm bao dung

tánh hòa đồng

lòng hòa ái

chẳng phân hai

thường giữ hạnh

đức chẳng suy

     Trung tim chân mày khi trì nặng phát sáng là trí tuệ bắt đầu khai mở, ta sẽ không còn ham muốn chuyện thế gian nữa, danh lợi sắc tài sẽ chẳng còn cám dỗ được, lúc đó ta chỉ muốn đạt được lý tưởng mà mình theo đuổi thôi.

     Trung tim bộ đầu là nền tảng của Phật tâm, khi trung tim này khai mở thì tâm ta sẽ tự nhiên không còn nhỏ nhen đố kỵ nữa mà bao dung rộng khắp.

   Nói chung, khi hai trung tim này khai mở thì Trí Tâm ta cũng được thanh nhẹ, tánh xấu không còn, tánh tốt đến một cách tự nhiên, lúc này chỉ cần nghiệp chướng quá khứ dần tiêu đi, đức hạnh đủ đầy, chờ ngày viên mãn. Vì lúc đó những vinh nhục, sang hèn, sướng khổ, được mất không còn làm động đến tâm ta, ta chấp nhận được khổ trong những cái khổ, nhẫn được điều khó nhẫn thì nghiệp tiêu, “đức” sáng chuyển hóa thành “công”.

tâm kinh

vượt qua bao khảo nghiệm

tâm thanh chẳng vướng tình

tám gió lay chẳng động

tâm tịnh trí không không

tâm chuyển kinh

kinh khai tâm

tâm kinh

minh minh

linh linh

giải giải

mãi mãi

không ngại

     Đạt được Bát Nhã Ba La Mật Đa (tức là Trí Tâm đã khai mở) thì ta dễ dàng vượt qua mọi khảo nghiệm. Rất nhiều người đang tìm hạnh phúc, muốn đốt giai đoạn, chẳng lượng sức mình, chẳng lo thủ đức lập hạnh, có được chút ít kiến giải, thêm tài biện luận hơn người, văn hay chữ tốt, nói ra được nhiều người nghe theo, nên tưởng rằng mình đã chứng đắc, xưng danh thầy tổ nhưng đến lúc gió nghiệp thổi tới thì trốc gốc lung lay, không thể vượt qua khảo nghiệm nào. Chúng ta cần chú ý, phải đắp bồi nền tảng cho vững (tức là Trí Tâm khai mở) thì mới tiến bộ.

     Dùng Trí để khai Kinh, tức là khi tụng Kinh niệm Phật hoặc trì Chú phải luôn để tâm nơi trung tim chân mày, hành trì lâu dần chuyển lên trung tim bộ đầu sẽ phát sáng rút nhẹ, càng sửa tánh càng sáng, càng mở lòng càng nhẹ, ta sẽ ngộ được hàm nghĩa ẩn sâu trong lời Kinh Chú và trong âm thanh niệm Phật, đó là Kinh đã khai tâm.

     Tiếp tục hành trì công phu riêng (tọa thiền, tụng Kinh, niệm Phật, trì Chú,…) và ứng dụng (va chạm với ngoại cảnh sinh hoạt để xét lại tâm, nâng cao tâm tính) thì đường thiên xích sẽ càng ngày càng cao, trí sẽ sáng, tâm cơ linh mẫn, suốt thông mọi sự, hiểu và giải được mọi gút mắc ở tâm thân của mình và người, không ngăn ngại.

quán t ti

tâm suốt thông

trí chẳng ngại

hòa trong đời

chẳng phân hai

tròn giới hạnh

đức giữ hoài

lợi trong ngoài

ta người cùng đạt

chẳng ngăn ngại

thương thì hại

thông thì minh

ý rõ phân

hết vướng tình

danh tự tại

      Khi trí tâm đã suốt thông, nghiệp chướng tiêu dần, lúc đó hành giả đã có đủ lực lượng để hành hạnh Bồ Tát, tại sao vậy? Vì lúc đó, hành giả đã có thể câu thông với chư Phật Thánh Tiên, tiếp nhận được năng lượng của các ngài, từ đó đem bố hóa cho chúng sinh mà không sợ hao tổn, cho ra càng nhiều thì thu được càng lớn, đức hạnh càng cao, người ta gọi là “Pháp Luân Thường Chuyển, Phật quang phổ chiếu lễ nghĩa viên minh”. Lúc này người hành đạo Bồ Tát nếu vỗ ngực xưng tên (cái “ta” nổi dậy), coi chừng sẽ rớt đài.  Người hành giả lúc này phải biết rằng mình có khả năng tiên tri tiên giác, lời nói oai linh, chúng sinh kính trọng,… Đó là do năng lượng của vũ trụ (Phật, Chúa, Thánh Thần) tiếp sức cho mình, mình là trung gian để năng lượng vũ trụ thông qua mà bố hóa cho chúng sinh, chứ riêng bản thân mình không tài cán gì cả. Tài càng cao phải càng khiêm hạ, hãy ghi nhớ !!!

b tát
trong sửa mình

ngoài giúp đời

trong ngoài đồng tiến

vượt khỏi mê tình

mê ắt si

lụy ắt nguy

thương mà hại

chẳng bằng không thương

giúp người mà hại người

chẳng bằng không giúp

liệu sức mình

mà giúp đời

mới là thông suốt

     Tuy thường xuyên cứu người giúp đời (vì đã câu thông được với năng lượng vũ trụ), ta vẫn thường xuyên xét lại mình (phản kỷ hồi quang) xem lời nói, việc làm và suy tư của mình có nằm trong chánh pháp hay không, vì còn mang xác phàm là dễ dàng tạo nghiệp nếu tâm ý buông lung.

    Sửa mình giúp người, không thiên lệch bên nào mới có hy vọng viên mãn. Sửa mình là công phu thủ đức, giúp người là công quả tích đức, chịu khó khổ, khắc kỷ phục lễ là công trình lập hạnh. Đầy đủ công phu, công quả, công trình thì không sợ gì bị sa ngã.

hành thâm

nói làm và suy nghĩ

nhân quả khéo xét suy

không vướng chữ tình si

vào biển mê không ngại

chẳng cầu danh

lòng tự tại

chẳng mong lợi

tánh ung dung

trí xét tột cùng

suốt thông ba cõi

đức giữ không rời

thời thời tự tại

     Lấy giới luật làm khuôn phép lập hạnh; lấy giới Pháp làm đuốc soi đường tiến tu; lấy ngoại cảnh làm trường thi để đánh giá sự thanh tịnh của mình, tiến bộ tới đâu…Đây là những quy củ mà người tu không nên thiếu, nếu thật lòng muốn giải thoát.

   Thế nào là lấy giới luật làm khuôn phép lập hạnh ? (tu theo tôn giáo nào giữ giới theo tôn giáo đó). Ví như, theo Phật giáo thì tại gia cư sĩ nên giữ tròn năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không say xỉn. Xuất gia thì giữ đủ các giới Tỳ kheo hoặc là tự mình coi kinh sách thánh hiền đưa ra một số giới luật riêng cho mình, theo đó mà giữ hạnh… Lâu ngày, giới luật sẽ trở thành đức tánh của mình thì sẽ không còn sợ phạm những giới đó nữa, ta lại đưa ra những giới cao hơn để lập hạnh. Ví dụ tại gia giữ giới tà dâm, nhưng còn chánh dâm (vì có gia đình) lâu dần không phạm vào chánh dâm nữa. Ví như giới nhẫn nhục, lúc đầu giữ ở thân (không đánh đập người) từ từ giữ ở khẩu (không la lối, trách móc người) tiến lên nữa là giữ ở ý (trong tâm không giận tức, chửi thầm người)… Cứ theo đó mà lấy giới lập hạnh.

    Theo thời gian, càng tu thì tầng thứ càng cao, tầng thứ càng cao thì Pháp càng ảo diệu nếu không có Pháp, làm sao ta biết cách tu tập ở tầng thứ đó, vì thế không thể bỏ Pháp. Pháp ở đâu ? Pháp là những hàm nghĩa thâm sâu ẩn chứa trong Kinh Pháp, chỉ có những người thường xuyên đọc, ngộ (hiểu), ứng dụng (nhà Phật gọi là Văn, Tư, Tu) mới có thể thẩm thấu được những yếu nghĩa ẩn chứa trong đó. Tâm càng thanh nhẹ, tầng thứ tâm linh càng cao sẽ hiểu Pháp càng sâu. Ví như, sáu chữ Di Đà, mới tu thì hiểu là hồng danh của Phật A Di Đà, là vô lượng quang, vô lượng thọ, lâu dần sẽ hiểu: Nam là lửa, Mô là không khí, A là nước, Di là phát triển, Đà là ánh sáng, Phật là thanh tịnh. Hoặc là, Nam Mô ẩn chứa huyền nghĩa của Vô sắc giới, A Di ẩn chứa huyền nghĩa của Sắc giới, Đà Phật ẩn chứa huyền nghĩa của Dục giới. Hoặc là, Nam Mô đại biểu cho tính CHÂN của vũ trụ, A Di là tính THIỆN của vũ trụ, Đà Phật là tính NHẪN của vũ trụ,… Vì thế mới gọi là Pháp Giới Tàng Thân A Di Đà Phật.

    Khi chưa giác ngộ thì ta bị ngoại cảnh chuyển khiến thất tình lục dục nổi lên che mất bản tánh thanh tịnh. Khi hiểu và chấp nhận tiến tu thì phải dùng tâm chuyển cảnh, coi môi trường xung quanh (người vật,…) là phương tiện là bài học giúp ta kiểm soát lại trình độ giác ngộ của mình tới đâu; sự thanh tịnh càng thâm sâu chứng tỏ đạo lực càng kiên cố, năng lượng càng lớn mạnh. Khi năng lượng lớn mạnh ta có thể xoay ngược tình thế từ xấu thành tốt, từ tốt thành tốt hơn, biết nhìn ngoại cảnh với tâm giác ngộ ta sẽ học được rất nhiều điều ngoài sách vở kinh điển, đó là lời dạy vô thinh vô tướng của chư Phật Thánh Thần dành cho những ai siêng năng tu tập thật sự muốn trở về. Lấy thiện đãi người, lấy nhẫn để bảo vệ tâm thanh tịnh không cho nhiễm ô, lấy tâm không – vô sở hữu để hóa giải muôn pháp. Làm được như trên thì viên mãn kề bên, suốt thông ba cõi, tự tại vô biên.

bát nhã ba la mt đa

thông suốt vượt thế tình

nhờ trí huệ phát sinh

một lòng lo rèn đức

sửa hạnh lập công trình

vượt hết thế tình

tâm trí nhẹ khinh

mặc khen chê

chẳng yêu ghét

đức tồn chẳng khuynh

giới quy chẳng phạm

đức tròn hạnh đủ

bát nhã ba la

    Nhất lý thông vạn lý minh, vì tất cả do danh lợi tình biến hóa muôn hình muôn vẻ; do tham sân si mà đủ phiền não khởi lên che lấp bản tánh thanh tịnh của mình, biết bồi công lập đức, biết thủ đức lập hạnh, biết nhẫn vô khả nhẫn thì không chướng ngại nào có thể cản trở, không gút mắc nào không giải tỏa được, lúc đó trí huệ phát sáng, vượt lên mọi phiền não lo toan của thế gian, vẫn sống trong đời mà không nhiễm đời. Hòa với người đời ăn uống ngủ nghỉ nhưng vẫn không đồng với họ.

Người đời ăn trong ham muốn dục lạc vọng tưởng, người tìm chân hạnh phúc thì ăn trong chánh niệm tỉnh giác, ăn biết mình ăn, ngủ biết mình ngủ,…Người đời thì xấu chê tốt mê. Người chấp nhận tìm chân hạnh phúc thì xấu chẳng chê tốt cũng chẳng mê, chẳng sợ nhục, không cầu vinh, ung dung tự tại giúp người giải thoát, thường giữ đức, lo lập hạnh, tô bồi âm chất, giải hóa nghiệp chướng, trí tuệ tự minh.

thi

sống tùy thời

tu mọi lúc

lập hạnh mọi nơi

giữ đức chẳng tổn

nói năng giữ mực

làm việc không thiên

suy tư chẳng vướng tình

thời thời luôn tỉnh thức

đức hạnh khéo phát sinh

thời thời thế thời thôi

    Ông bà có nói “khôn cũng chết; dại cũng chết, chỉ biết mới sống”.

Thế nào là khôn cũng chết ? Thông minh lanh lợi quá, ỷ tài ỷ giỏi lấn lướt người, hiếp đáp người tự mình làm tổn đức nghiệp chướng sâu dày, đến ngày trả quả, khó thoát luân hồi, vay trả trả vay.

   Thế nào là dại cũng chết? Ngu si thiểu trí, chẳng phân thiện ác, nói năng, làm việc, suy tưởng đều bị dục vọng chi phối, nghiệp chướng sâu nặng, sinh tử, tử sinh mãi mãi nối nhau, chẳng thấu nguồn tâm, chẳng hiểu nhân quả, thế nên mới nói chết là vậy!

   Thế nào là chỉ biết mới sống? Biết rõ nhân quả nên không dám gieo nhân ác; biết thời biết thế nên không dám làm càn làm bướng; biết ta biết người nên thường xuyên cầu tiến, biết nhịn biết nhường nên đường nào cũng lọt, biết kính trên nhường dưới nên trên dưới hòa vui, biết phân định thân sơ nên thân sơ chiếu cố; biết trình độ thanh tịnh của mình nên tiến tu đúng mực, biết khuyết điểm của mình nên sửa sai đúng lúc, thế mới nói “biết thì sống”, sống cả thể xác, sống cả linh hồn; còn người khôn kẻ dại chỉ có cái xác là sống mà hồn đã chết mất từ lâu, hãy chú ý khắc cốt ghi tâm!!!

chiếu kiến

soi chẳng trệ

thấy chẳng vương

soi chiếu vượt thế thường

đức hạnh mãi viên phương

mắt thấy tâm bất động

tai nghe lòng chẳng vương

thấy nghe không ngăn ngại

vượt hết mọi tai ương

   Thấy và biết!Có người thấy mà không biết, lại có người biết không cần thấy hoặc biết nhưng lại không thấy. Phải thấy bằng tâm, biết bằng trí thì thấy biết này mới giúp ta tiến bộ.

   Thấy rõ sự việc trước mắt mà cứ gàn bướng, hoặc theo hoặc bỏ, hoặc làm hoặc không, hoặc ưa hoặc ghét, chạy theo vọng tưởng gọi là thấy mà không biết.

    Thường lo sửa tánh, phản tỉnh tự xét, khắc kỷ tu thân, rõ thấu nhân quả, làm không sai phạm, nói không gây lỗi, suy tư theo Giới Pháp, không cần thấy rõ sự đời mà vẫn biết rõ tốt xấu thiện ác, biết giúp người cứu vật, biết bao dung nhịn nhường, đó là biết không cần thấy.

   Thế nào là thấy bằng tâm, biết bằng trí?

    Trong lòng luôn phẳng lặng, biết lắng nghe, nghe tiếng nói của nội tâm và của ngoại cảnh, câu thông với cả pháp giới, trên nối liền với năng lượng của Phật Thánh Tiên, dưới cảm thông và hóa giải được mọi khổ đau của chúng sinh, lời nói việc làm và suy tư, luôn làm lợi ích cho muôn loài, thì luôn được che chở bởi hào quang của các Đại Giác Giả, lợi người lợi mình, hoằng dương chánh pháp, phổ chiếu Phật quang, viên minh lễ nghĩa…, được như vậy mới đáng gọi là thấy bằng tâm biết bằng trí.

    Muốn được như vậy phải làm sao? Phải thấy rõ được bản chất thanh tịnh của tâm, tánh chất thanh tịnh của tâm là tánh chất thanh tịnh của càn khôn vũ trụ, nơi các Đại Giác Giả tánh này vẫn chẳng thêm, trong các chúng sinh ngu mê, tánh này vẫn chẳng bớt. Làm sao thấy được nó? Trong tâm buông bỏ muôn duyên, không một ý niệm nào trong tâm thức, tâm hằng rõ biết mà vẫn không khởi bất kỳ một tư tưởng nào, đó là chỗ chúng ta phải trực nhận.

ngũ un giai không

trong xét không thấy mình

ngoài suy chẳng thấy người

trong ngoài đồng vắng lặng

hằng có mà như không

trí tâm đồng thông suốt

hạnh đức đồng thăng hoa

giúp mọi nhà

là giúp ta

hòa ái

nhẫn nại

tự giải

vô ngại

    Thân không tật bệnh, tâm không phiền não, nói năng suy nghĩ làm việc không rời chánh niệm, đạo tâm kiên cố, đạo pháp tiến tu, đạo lực thâm hậu, xích độ vươn cao, vượt rào tam giới, xuất tánh phi thăng. Chẳng nhiễm sắc tài, chẳng mê danh lợi, không vì cái ta mà gây thêm nghiệp chướng, không vì thấy người nghịch ý mà phiền não ghét ganh, luôn hòa ái tương thân, có tất cả sẵn sàng cho tất cả, không tất cả mà lòng vẫn chẳng mong cầu, tùy duyên tùy cảnh, tùy thời tùy lúc, lợi lạc bá gia, ấy là hạnh phúc, ngũ uẩn giai không, tâm không chẳng vướng.

 

đ nht thiết kh ách

vào khổ mà không khổ

trong mê chẳng bị mê

trí tâm thường tỉnh giác

có chi gọi khổ mê

bồi đức lập công hạnh

sẽ thoát mọi ê chề

   Vì mê nên vướng mắc, vì vướng mắc nên phiền não phát sinh, phiền não là đau khổ. Vậy muốn hết đau khổ phải dứt phiền não, muốn hết phiền não phải đừng vướng mắc, muốn đừng vướng mắc phải có trí tuệ, muốn có trí tuệ phải khai mở nhất khiếu huyền quang, muốn khai mở nhất khiếu huyền quang phải biết nó ở đâu? Nó chính là trung tim chân mày (huyệt ấn đường) của mỗi con người, hãy thường xuyên tụng Kinh, niệm Phật, trì Chú tại nơi đó, lâu dần tâm sẽ thanh tịnh thì trí tuệ phát sinh. Cổ nhân có câu: “tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu” (心地若空慧日自照)là ý đó.

    Khi thấu rõ nguồn tâm, ngộ được tự tánh thì vào khổ mà không khổ, trong mê mà chẳng mê, trong vinh nhục chẳng thấy nhục vinh… thì có chi là khổ, mà không khổ thì độ cái chi? Xin thưa vẫn phải độ, độ cái ý niệm cho rằng mình đã hết khổ, độ đến vô cùng vô tận.

xá li t

tâm thường vô sở hữu

chẳng sợ ngoại vật mê

không không không tất cả

xá lợi tử quay về

trí thông

tâm đạt

đức dày

hạnh cao

ma nào dám khảo

quỷ nào dám khinh

    Khi trong lòng rỗng rang vắng lặng thì ta đang hòa với vũ trụ làm một. Trong ta tràn đầy năng lượng, nhờ năng lượng này mà ta vượt qua tất cả mọi cám dỗ, lâu ngày tinh khí thần kết tụ, thân tâm đều được chuyển hóa thành vật chất cao năng lượng thì trí thông, tâm đạt, bước sang giai đoạn tu luyện xuất thế gian pháp.

sc bt d không

có nhiều mà chẳng vướng

nghe nhiều mà chẳng mê

thấy nhiều mà chẳng động

làm nhiều mà không vương

nhờ thông đạt tỏ tường

không - sắc ấy nào vương

   Tới giai đoạn này ta có rất nhiều các công năng thần thông thuật loại nhưng nên nhớ đừng vướng mắc vào chúng, được nghe nhiều thứ mà người phàm không thể nghe, thấy nhiều thứ mà người phàm chẳng thấy, làm nhiều điều mà người phàm không thể làm được, “nhất lý thông vạn lý minh”, có tất cả mà không vướng là như vậy.

 

không bt d sc

hằng buông bỏ tất cả

lại không thiếu chút nào

hằng nhường người một bước

lại tiến vượt lên cao

nhẫn đến vô khả nhẫn

ắt sẽ vượt khỏi rào

không không mà có đó

lúc có vẫn hằng không

ấy gọi không là sắc

   Nhờ không vướng nên trong không, ta lại có, có nhiều hơn trước, ta lại phải “không” thêm nữa, sống khiêm tốn bao dung, càng có càng cho ra, nhẫn đến vô cùng, thẳng tiến đến vô biên, không còn gì chướng ngại, tất cả đều vượt qua được nhờ thông đạt hai chữ “có không”.

sc tc th không

có – không  vẫn mặc kệ

không - có chẳng để tâm

có – không là nhân ngã

chẳng có cũng chẳng không

mà vẫn thường có không

tùy thế duyên hành sự

vẫn mãi rỗng rang lòng

    Có nhiều mà vẫn không vướng mắc, không thật không mà vẫn chẳng u mê, tùy lúc mà làm “có”, tùy lúc mà thể hiện “không”. “Có”, “không” là phương tiện giúp cho đời và người tiến hóa.

không tc th sc

chịu buông bỏ

chịu hy sinh

chẳng thấy buông

chẳng thấy mình

có gì gọi bỏ

có gì hy sinh

lập ngôn lập đức

giữ vẹn hạnh mình

vào đời chẳng nhiễm

tâm trí thinh thinh

      Muốn đạt được chân hạnh phúc thì phải bỏ tâm ích kỷ, tật đố, nhỏ nhen .Mọi hạnh lành trở thành bản tánh tự nhiên của mình, làm điều tốt không thấy có mình làm, nói lời lành không thấy có người nói. Mọi suy tư đều thấu tình đạt lý, lợi mình lợi người lợi vật, thân còn trong thế tục mà tâm đã thanh thoát ở cảnh giới cao siêu giống như sen ở gần bùn mà chẳng nhiễm, thế nên mới gọi “vào đời chẳng nhiễm”.

 
   

 

th tưởng hành thc

thọ nhận chẳng vương mang

tưởng suy chẳng động lòng

hành xử trong thiện hạnh

thức tánh chẳng tình si

     Sắc đã không vướng thì thọ tưởng hành thức cũng không làm động tâm, danh lợi sắc tài không mê, biết dùng nó để lợi lạc cho đời, vì đời là trường tiến hóa, danh lợi sắc tài là bài học cho người tìm chân hạnh phúc. Sống với danh lợi sắc tài mà vẫn làm chủ nó, người tìm chân hạnh phúc khác với người đời ở chỗ đó, họ vẫn sinh hoạt như người thường, vẫn đi đứng nằm ngồi, vẫn ăn uống ngủ nghỉ, nhưng khác với người đời ở chỗ là họ luôn sinh hoạt trong chánh niệm tỉnh giác, biết rõ mình đang làm gì, nói gì, nghĩ gì; còn người đời không ý thức được những gì mình đang nói, đang làm, đang nghĩ, luôn bị phiền não giận hờn ganh tỵ chi phối điều khiển mình.

     Hãy dựa vào những điều vừa nói trên để biết mình tìm được chân hạnh phúc chưa?

dic phc

định tâm dừng ý ngăn lòng

quy về một mối không không mới rồi

hạnh đức phải khéo tô bồi

quy chân phản bổn một đời khéo tu

lấy nhẫn giải nghiệp

đại bi giúp đời

chẳng phân ta người

quy về một mối

đức hạnh tròn đầy

tâm trí thẳng ngay

      Đầu tiên khi tìm chân hạnh phúc cần phải thực hiện cho được những lời này “có tai như điếc, có mắt như mù, có miệng như câm, sống đây như kẻ chết rồi”. Tại sao lại làm như vậy ? Làm như vậy là để tập cho tâm tánh mình không còn bị chi phối bởi ngoại cảnh, không bị cám dỗ hay phản ứng trước những kích động của thế gian, lâu dần tâm thức như gỗ đá, nếu giữ nguyên trạng thái như gỗ đá này chỉ mới là “tiểu thừa La Hán”, chưa thể siêu sinh, cần phải tiến sang giai đoạn thứ hai.

   Trong giai đoạn thứ hai, chúng ta tập nói năng làm việc suy tư một cách chậm rãi từ tốn, luôn giữ gìn lời nói, việc làm, suy tư nằm trong chánh pháp, không để phạm giới, gìn giữ tam nghiệp: thân, ngữ, ý luôn trong sạch, luôn theo giới pháp. Cho đến khi nào hoàn toàn không còn có lỗi lầm thì bước sang giai đoạn thứ ba.

    Trong giai đoạn thứ ba, chúng ta phải đạt được nội dung của câu sau: “Nói rồi quên, làm rồi quên, nghĩ rồi quên” tức là họ đã đạt được sự trong sạch nơi tam nghiệp rồi thì cần phải đừng vướng mắc trong sự trong sạch ấy, nghĩa là đừng cho rằng ta là giỏi, là giới hạnh hơn người. Tại sao vậy? Vì sự tiến hóa là vô cùng vô tận, nếu ta tự mãn cho rằng mình đã “ngon” rồi thì ta đã tự giới hạn mình lại, không tiến hóa được nữa.

như th

việc đời như vậy mà thôi

có chi phiền não để rồi lụy thân

tâm vô sở hữu chẳng phân

thị phi nhân ngã chẳng cần đeo mang

nhất tâm chánh niệm rõ ràng

lấy hạnh làm giới, đức càng thăng hoa

phải lo gắng chí vậy mà

như vậy cũng chính như là vậy thôi !

    Đến đây ta không còn nói năng làm việc suy tư theo ý riêng của mình nữa mà lời nói việc làm suy tư của ta đã hòa hợp với vũ trụ, đã trở thành phương tiện để cho các Đại Giác Giả trên cao tầng giáo hóa chúng sanh. Ta nhìn đời với cặp mắt bao dung, ta sống với tâm thức của Phật, chẳng nhân ngã, chẳng thủ xả, như vậy là như vậy.

xá li

buông bỏ mọi chuyện đời

mà vẫn sống trong đời

thân không khác người đời

tâm trong đời chẳng mê

xả lợi

bỏ danh

không tình

từ bi rộng khắp

không mình không ta

bốn bể là nhà

chẳng ở đâu xa

vượt qua vướng mắc

lợi danh đồng hòa

      Dù trình độ mình có cao đến đâu, ta phải luôn coi mình là kẻ “bất xứng khốn nạn”, có như thế tâm tự mãn kiêu căng mới không khởi lên, danh lợi tình mới không thể cám dỗ được ta, lúc đó tánh khiêm tốn nhún nhường luôn ngự trị trong lòng, đức của ta mới không hao tổn. Danh lợi càng đến với ta thì ta phải càng buông xả, tuyệt đối không để vướng mắc.

t

lỗi nhỏ chẳng xem thường

xét suy từng chút

bỏ hết lợi danh

tình kia cũng mất

tâm không chứa chấp

trí hằng sáng soi

nhân quả soi đời

tử kia ai biết

     Càng lên cao càng phải biết xét lại mình, kiểm thảo lại thân ngữ ý, nếu có lỗi phải tự sám hối vì còn mang thân xác tứ đại là còn tạo nghiệp, càng cao thì nghiệp càng vi tế. Nếu không quán xét kỹ càng để nghiệp vi tế tích tụ thì khó đạt chân hạnh phúc.

   Ví dụ, mới vào con đường tìm chân hạnh phúc thì ngũ dục thô cộm của thế gian là tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ,… ta thấy rất rõ, chỉ cần khéo dụng tâm thì có thể điều phục…Càng tiến lên cao, ngũ dục thô cộm này, sự ham muốn trần trược này biến thành những ước vọng thanh cao như là: thích vẽ tranh, thích làm thơ (kể cả thơ thiền), ngắm hoa vọng nguyệt, chơi hoa kiểng, bonsai, trà đạo,…Đó chính là ngũ dục vi tế, đây là sự cám dỗ rất nhẹ nhàng, rất tao nhã. Nói tóm lại, trong tâm còn thích còn ham còn muốn thì còn vọng chấp, chưa đạt được chân hạnh phúc.

    Một vị tổ đã nói rằng, “sống trong nhà điếm ba mươi năm dù không bị nhiễm ô, không vọng tưởng nhưng vẫn còn vướng nghiệp thanh dâm”. Tìm chân hạnh phúc là tập cởi bỏ xiềng xích bằng sắt thép, tiến  dần dần lên cao cần phải tháo bỏ xiềng xích bằng vàng ngọc, vì dù là vàng ngọc cũng vẫn là xiềng xích. Con chim ở trong lồng tre và con chim ở trong lồng vàng, nào khác chi nhau, cũng vẫn là thân tù tội, hãy chú ý điều này !

th

mắt thấy vậy là vậy

tai nghe là nghe thôi

tạm cưỡng cầu mà nói

thấy – nghe - nói vì đời

chẳng vì lợi riêng tôi

     Nói như trên không có nghĩa là buông bỏ tất cả, phải biết rằng mọi sự việc, mọi pháp trên thế gian này như con dao hai lưỡi nếu khéo biết sử dụng để làm lợi lạc cho chúng sinh thì rất tốt, nếu không khéo thì sẽ hại trở lại mình, làm mất đi chánh niệm. Ví như chơi cây kiểng mà đam mê vào đó quên cả giờ giấc, quên giữ chánh niệm  trong lúc chơi cây kiểng thì là mình đang gây nghiệp. Nếu biết sử dụng khả năng chơi kiểng của mình để điều phục chính mình và điều phục những người có đam mê ấy cho họ biết tìm chân hạnh phúc thì rất tốt. Nói chung cần phải có trí tuệ thì mới không tạo nghiệp, muốn có trí tuệ siêu xuất phải có trình độ tu chứng, muốn tu chứng cần phải hạ thủ công phu, tha thiết tìm chân hạnh phúc.

    Khi chưa liễu ngộ tự tánh thì ta chưa đủ sức để sử dụng ngũ dục thanh cao làm lợi cho đời, vì thế nên tránh xa loại ngũ dục vi tế này. Liễu ngộ rồi mới có thể không bị ngũ dục vi tế cám dỗ, sử dụng nó mà không bị mê.

chư pháp không tướng

tướng hình là ảo viễn

tâm chấp nên vướng đời

tùy thời - không, hiển hiện

sắc tướng mãi không thôi

do tâm mà hiển hiện

do trí mà tô bồi

nơi đây là không tướng

nơi đó là hữu hình

tướng không hoặc là có

chứng ngộ ắt rõ tình

Trên đường tìm chân hạnh phúc, trước hết phải mượn tướng phá tướng tức là, mượn những giới luật để dẹp đi những vọng tưởng tham sân, mượn nhất niệm thanh tịnh để phá đi vạn niệm u mê. Ta cứ mượn tướng phá tướng đến vô cùng vô tận, cho đến khi ý niệm phá tướng đó cũng không còn trong tâm tưởng, ta lấy nhất niệm thanh tịnh cho đến khi nhất niệm này hòa nhập với ta, không hai không khác; ta là niệm, niệm là ta, và cho đến cả ý niệm “ta là niệm, niệm là ta” cũng không khởi.

Ví như, ta niệm sáu chữ Di Đà, mượn âm thinh sáu chữ này để tẩy trừ vọng niệm, niệm thường xuyên, niệm liên tục mãi cho đến thường niệm, tới lúc đầu óc sáng choang, mỗi niệm là mỗi luồng ánh sáng phát ra, mỗi niệm là toàn thân rung chuyển, trung tim bộ đầu rút thẳng lên cao. Niệm cho đến lúc vô biệt niệm, không còn phân biệt đâu là mình, đâu là niệm, lúc đó tâm khai trí sáng, muôn pháp dung thông.

bt sanh bt dit

chẳng sanh cũng chẳng diệt

siêu việt khỏi thế gian

rồi lại hằng sanh diệt

tiến mãi chẳng vương mang

bất sanh lại bất diệt

diệt diệt lại sanh sanh

sanh diệt diệt sanh mãi

trí tâm thông rõ ràng

muôn pháp là như vậy

thức tỉnh khỏi bàng hoàng

    Phần hồn của chúng ta mới thật sự là bất sanh bất diệt, trải qua vô số kiếp luân hồi, mang đủ mọi hình dạng bởi không thấy rõ được bản tánh của mình. Để phản bổn quy chân được dễ dàng, phải thấy được cái đang bất sanh bất diệt đó. Giữa các niệm tưởng đang sinh diệt từng sát-na, biến đổi từng giây phút, nếu ta thấy được khoảng yên lặng giữa hai luồng ý niệm và kéo dài được khoảng yên lặng đó thì ta đang dần dần sống được với bản tánh thật sự của mình…

     Để thấy được khoảng yên lặng giữa hai niệm tưởng đó, có nhiều phương pháp; ở đây xin đề cử một phương pháp dễ dàng để quý vị nhận thức được “cái chỗ yên lặng đó”.

     Bạn hãy đọc to tiếng, ngân vang một câu Kinh, một bài kệ nào đó hay một danh hiệu của Phật… liên tục, liên tục, nhiếp tâm theo âm thanh đang phát ra khoảng 3 phút trở lên, tuyệt đối không được móng tâm nghĩ đến điều gì khác, chỉ lắng nghe theo âm thanh đó thôi… rồi bất ngờ dừng âm thanh lại (không niệm nữa), ngay trong tích tắc đó, bạn sẽ thấy tâm tưởng mình trống không, cái trống không đó chính là cái tâm thật của bạn đấy. Đối với người thường, “cái trống không ấy” vẫn thường xuyên xuất hiện giữa mỗi niệm tưởng nhưng vì “thời gian trống không” ấy quá ngắn khiến người ta không nhận ra nó được, cứ quay lộn từ niệm tưởng này sang niệm tưởng khác.

     Khi đã trực nhận được bản tính thanh tịnh vắng lặng của mình rồi, nếu khéo bảo dưỡng nó trong sinh hoạt hằng ngày là ta đang sống với sự bất sanh bất diệt của mình. Mỗi khi niệm tưởng khởi lên, ta phải nhận thức rõ rằng niệm tưởng đó không phải là mình, mà mình là cái không không vắng lặng thì ta sẽ không bị các niệm tưởng cuốn lôi mà sinh ra đủ thứ phiền não.

bt cu bt tnh

dơ sạch ai rõ thông

thời – không, lớp trùng trùng

đâu dơ ? đâu là sạch ?

chân lý mãi không cùng

đây sạch dơ nơi kia

bởi đức nên phân chia

đức càng cao càng sáng

kém đức ắt chia lìa

    Niệm tưởng khởi lên mà ta cứ bị cuốn lôi theo nó, đó là sự bất tịnh, sự ô trược của tâm thức.

   Niệm tưởng khởi lên, ta thấy rõ được nó không phải là mình cũng không phải của mình, ta vẫn hằng sống với bản chất thanh tịnh vắng lặng của mình, đó là “bất cấu”, là sự thanh cao trong sạch.

      Có thể ví bản chất thanh tịnh của ta như màn hình của cái tivi; khi bật tivi lên đủ mọi hỉ nộ ái ố, đạn nổ bom rơi… xảy ra trên màn hình nhưng màn hình vẫn hoàn toàn không bị lay động, nhiễm ô. Bản chất thanh tịnh của ta cũng thế, dù bao nhiêu niệm tưởng quay cuồng trong ta nhưng bản chất thanh tịnh của ta vẫn không bị ô trược; ta chỉ mất phương hướng, phải luân hồi khi bị cuốn lôi theo các niệm tưởng đó, quên đi bản chất thật sự của mình. Chỉ cần nhận thức rõ được cái gì là mình thật sự, cái gì không phải là mình, không phải của mình, thì ta sẽ dễ dàng trở về, tìm được hạnh phúc thật sự cho mình.

     Sự ô trược (cấu) hay thanh cao (tịnh) trên thế gian chỉ là những bài học giúp ta nhận thức lại bản chất “như như” của mình, chứ nó (cấu, tịnh) không phải là đề tài để ta bình phẩm khen chê. Dù tám gió (được mất, vinh nhục, khen chê, sang hèn) có bủa vây lấy ta, nhưng nếu ta biết sống với tâm thức vắng lặng như như thì sẽ không bao giờ bị nó cuốn lôi.

bt tăng bt gim

giảm tăng tăng giảm mãi

chịu luân hồi đổi thay

đức trọng nào tăng giảm

giảm tăng bởi chẳng ngay

theo tình nên phân cách

kém trí phải rớt đài

     Trên đường tìm chân hạnh phúc, nếu không kiên tâm bền chí, chánh niệm vững vàng thì đức của ta sẽ khi tăng khi giảm, đường thiên xích sẽ lúc lên lúc xuống khiến khó lòng quy chân phản bổn, phải biết thủ đức, nhịn nhục, chấp nhận mọi hoàn cảnh, hy sinh mọi quyền lợi, buông bỏ tự ngã thì đức của ta sẽ dần tăng, nghiệp của ta sẽ dần bớt… và sư phụ sẽ giúp ta chuyển hóa đức trở thành công.

     Tâm tánh thay đổi theo chiều hướng thanh cao thì bản thể của ta cũng chuyển hóa thanh nhẹ không còn bệnh tật, thần thái uy nghi, khí lượng phi phàm, dáng vẻ khôi vĩ tinh kỳ…, ai trông thấy cũng sinh lòng kính ngưỡng. Nhìn một người, xem thần sắc của họ ta có thể biết trình độ tâm thức của người ấy, vì tướng là thể hiện của tâm, tâm huân tập chỉnh sửa lại tướng…Hãy thường xuyên trau tâm sửa tánh, loại bỏ những niệm tưởng ô trược thì lời lẽ và việc làm của ta sẽ thanh nhẹ, bản thể của ta sẽ được chuyển đổi, nếu có bệnh, bệnh sẽ hết, nếu mặt có ám khí, ám khí sẽ dần tan.

 
   

 

 

th c

trách người, không trách ta

ấy thật là kém đức

trách ta chẳng trách người

ấy mới là thủ đức

trách ta lẫn trách người

ấy gọi là lập hạnh

chẳng trách ta lẫn người

ấy gọi là viên dung

tất cả một chữ đồng

có – không hằng suốt thông

     Người đời khi gặp chuyện không vui thì đổ lỗi cho người, gặp chuyện đắc ý thì nhận hết về mình.

    Chúng ta sẽ không như thế, luôn nhìn lại mình, luôn nhận lỗi về mình, tự trách mình nghiệp dày đức mỏng nên mới xảy ra chuyện không hay, không bao giờ mở miệng than trời trách đất oán người, chỉ biết sám hối ăn năn cho tiêu dần nghiệp chướng.

     Theo thời gian việc sửa tánh  có tiến bộ, đạo tâm kiên cố, đạo lực vững mạnh, thấu rõ nhân quả, phân biệt rõ thiện ác…, thì lúc đó có thể nhắc nhở người nhẹ nhàng khi người phạm lỗi, chỉ bảo người một cách khéo léo khi người mắc sai lầm. Lúc chỉ bảo cho người phải khéo dùng phương tiện không để người khởi phiền não, giúp người thấy rõ nhược điểm của mình mà hoan hỷ sửa sai thì ta mới xứng đáng là thầy thiên hạ. Ta phải nhận thức rõ rằng việc khiển trách người, thậm chí ra hình phạt đối với người mục đích không phải là để trả oán mà để giúp người nhận thức được sự sai lầm của họ, từ đó giúp họ tìm được chân hạnh phúc; khi đang khiển trách người, tâm ta phải hoàn toàn thanh tịnh, nếu có niệm tưởng bực tức khởi lên trong tâm thì ta đã sai lầm.

    Tiến lên cao nữa, ta sẽ thấy rằng chẳng có gì đúng mà cũng chẳng có gì sai, mọi người đang tiến hóa theo trình độ thức tâm của mình, chẳng có ai muốn bị chê, chẳng có ai muốn làm điều ác trược để chịu tội vạ… Mọi sự mọi việc đều là bài học, là như vậy, như vậy, có thế ta mới không đánh mất sự thanh tịnh của mình, luôn nói nghĩ và làm việc trong chánh niệm, từ bi rộng khắp, lý sự viên dung.

không trung

trong không mà thường có

đức hạnh luôn đủ đầy

bao dung không vướng bận

lợi lạc khắp muôn loài

nhẫn không thôi

bi chẳng rời

ý thanh tịnh

chẳng nhiễm đời

     Khi sống với bản chất thanh tịnh của mình là ta đang ở trong trạng thái không – vô sở hữu, tâm ta trong sáng như mặt gương, sẵn sàng phản chiếu bất cứ một hiện tượng nào ở ngoại cảnh mà vẫn không mất đi sự chiếu rọi sáng suốt của mình nên mới gọi trong không mà thường là thế.

    Hằng nhẫn nhục mà vẫn không thấy có mình đang nhẫn nhục và có việc để mình phải nhẫn nhục.

    Hằng bao dung mà vẫn không thấy có mình đang bao dung và có người hay vật đang được bao dung.

   Hằng không không thanh tịnh mà vẫn không thấy có mình đang ở trạng thái không không thanh tịnh và vẫn không thấy sự không khôngthanh tịnh đó.

    Cái không không thanh tịnh chính là mình; mình cũng chính là cái không không thanh tịnh; ngay cả ý niệm về việc: không không thanh tịnh là mình, mình là không không thanh tịnh cũng không có. Không tột cùng không, bao la vạn hữu, không vướng mắc bất kỳ ở một ý niệm nào trong tâm thức hay một pháp nào nơi ngoại cảnh, tự tại vô ngại.

vô sc vô th tưởng hành thc

thân chẳng quá dung dưỡng

lòng chẳng quá tham mê

ý chẳng hề rối loạn

làm việc chẳng vương mang

trí tuệ luôn soi sáng

có gì đâu mà ham

 

*****

chấp thân nên khổ

muốn nhiều nên phiền

tưởng nhiều nên loạn

làm bừa nên hư

biết nhiều nên mê

nói không để phá

thông rồi chẳng không

tự nhiên hành sự

 

*****

vì chấp lấy có mình

bao phiền não nảy sinh

danh lợi tình đắm nhiễm

đức trọng sẽ dần khinh

 

*****

vì thế nói không thân

tâm thanh tịnh lần lần

danh lợi tình buông bỏ

đức sẽ được viên phương

     Để đạt được chân hạnh phúc, đầu tiên là phải phá bỏ ngã tướng, ngã tướng là cái ta của mình, vì vướng mắc vào cái ta của mình nên sinh đủ thứ phiền não. Ví như nói, đây là nhà của tôi nên khi có người phá nhà thì ta tức giận, đây là vợ của tôi, nên khi vợ làm điều trái ý nghịch lòng thì ta phiền não… Như vậy, cái ta là nguồn gốc của đủ mọi nghiệp chướng.

    Tự kiêu, tự đắc là biểu hiện của cái ta cường thịnh; tự ti mặc cảm là biểu hiện của cái ta yếu nhược. Đều là vì cái ta mà tạo nghiệp.

    Làm sao để phá bỏ cái ta đây?

     Để phá bỏ cái ta cường thịnh, tự kiêu tự đắc, hãy tự suy xét cho rằng mình là con người đầy xấu xa tội lỗi, chỉ đáng bị chửi rủa phỉ báng (ta thấy những người bị sa vào vòng lao lý tù đày, họ đâu dám phản kháng lại khi bị cai tù chửi mắng đánh đập). Như vậy lâu dần cái ta tự kiêu tự đắc sẽ dần dần lắng xuống.

    Còn để phá bỏ cái ta yếu nhược tự ti mặc cảm, hãy tự nhủ rằng toàn thế gian này không ai giống ai, mỗi người đều có cái hay, cái dở của riêng mình, trông lên thì ta chẳng bằng ai, nhưng trông xuống cũng chẳng ai bằng mình...có gì mà phải mặc cảm tự ti?

    Hoặc có thể suy tư rằng, mọi sự mọi vật đều có quan hệ nhân duyên, chẳng khi nào tự dưng mình lại được khen hay bị chê cả, ta cứ dựa theo luật nhân quả mà sinh hoạt, hơi đâu mà tự đắc? Hơi đâu mà mặc cảm? Bởi có tự đắc cũng chẳng được khen thêm, hay có mặc cảm cũng chẳng khiến chê trách bớt đi.

    Phái Pháp Lý Vô Vi chủ trương dùng Pháp Luân Chiếu Minh và Pháp Luân Thường Chuyển để khai thông bản thể, điều phục bản ngã lặp lại trật tự quân bình mọi lúc mọi nơi thì thân tâm an lạc, vui sống vì mọi người chứ không còn sống một cách ích kỷ eo hẹp nữa.

     Để tìm chân hạnh phúc cần phải dấn thân vào đời, mượn ngoại cảnh để thấu hiểu rõ những ô trược trong tâm thức, từ đó mà loại bỏ chúng đi. Mọi thất tình lục dục trong ta khi đụng chuyện, tức là gặp lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, giác) hay bát phong (tám gió: được mất, khen chê, nghèo giàu, có không), sẽ khởi lên lục thức (sáu sự nhận biết qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) nhiễm ô, làm ta đau khổ phiền não. Ta cần học bài học đau khổ này mà thức tỉnh. Tức là ta cần phải trong ma sát giữa người với người mà tôi luyện bản tánh của mình từ xấu thành tốt, từ tốt càng tốt thêm. Phải dựa vào ba tiêu chuẩn Chân - Thiện - Nhẫn để định vị tánh tình của mình, mỗi biểu hiện của lời nói, việc làm và suy tưởng nếu trái với Chân - Thiện - Nhẫn tức là ta đã đi sang ma đạo, cần phải điều chỉnh lại. Càng tiếp cận được chân hạnh phúc càng thấy lời nói, việc làm và sự suy tưởng của mình dần dần gần với ba đặc tính Chân - Thiện - Nhẫn. Đó là ta đã đi đúng đường.

 

 

vô nhãn nhĩ t thit thân ý

vì còn thấy có người

nên tật đố không thôi

lửa sân thiêu gan ruột

một kiếp lại luân hồi

 

*****

thấy người như không thấy

ý hằng thanh tịnh vậy

vì người làm lợi ích

nên ta người không phân

 

*****

mắt thấy tâm không động

tai nghe lòng không mê

mũi ngửi ý không vướng

miệng nói chẳng thị phi

thân chạm tánh không loạn

ý tưởng tình chẳng si

 

******

thấy rồi thôi

nghe rồi thôi

ngửi rồi thôi

nói rồi thôi

làm rồi thôi

nghĩ rồi thôi

có việc thì làm

không việc thì nghỉ

muôn sự tùy duyên

chẳng chi nhọc phiền

có có không không

mọi sự an yên

     Khi mắt thấy, tai nghe, tâm tưởng và bị cái ta phàm phu chi phối thì nhận thức của ta đối với ngoại cảnh đã bị méo mó, từ đó bao yêu ghét giận hờn nổi lên khiến ta phải quay cuồng theo tám gió, ăn không ngon ngủ không yên…Lỗi này không phải do ngoại cảnh, cũng không phải do các giác quan mà do tâm ta chưa sáng, tánh ta còn chấp mê nên thấy việc tốt thì mê, việc xấu lại chê, thị phi nhân ngã đủ điều.

     Nếu muốn tìm chân hạnh phúc thì ta cần phải xả bỏ tất cả mọi yêu ghét chất chứa trong tâm thức; phải biết rõ rằng các phiền não giận hờn trong lòng chính là những sợi dây trói buộc ta vào tam giới. Thật sự nhận thức được như vậy, hiểu rõ được tác hại của nó thì ta rất dễ dàng xả bỏ mọi nết hư tánh xấu trong mình.

 

vô sc thinh hương v xúc pháp

bỏ hết tướng ta người

còn vướng tướng chúng sinh

là còn nhiều vọng tưởng

phiền não chừng nào khinh

 

******

vào sắc mà không nhiễm

trong thinh chẳng khởi tình

nơi hương không mê loạn

gặp vị chẳng phân vân

xúc chạm không mê lầm

tâm khởi hằng rõ biết

là không – vô sở hữu

    Chân hạnh phúc là vô cùng vô tận, do đó sự tiến bộ cũng vô tận vô cùng. Vì thế khi vượt qua được một chướng ngại nào, khi có được chút sở đắc nào, ta cũng không nên tự mãn mà dừng lại. Cần phải biết rằng “thiên ngoại hữu thiên”, tâm luôn khiêm tốn, thường xuyên học hỏi mọi lúc mọi nơi, chẳng bao giờ vỗ ngực xưng tên, luôn thật sự thấy rằng mình kém cỏi.

    Có được như thế thì ta mới tránh khỏi mê lầm; càng lên cao, bài học càng sâu sắc tế nhị, nếu không tỉnh táo, ta rất dễ rớt đài. Thời thời cần phản tỉnh; khắc khắc phải quán sát; mỗi niệm khởi lên tâm hằng rõ biết, có thế mới hy vọng đạt viên mãn.

vô nhãn gii nãi chí vô ý thc gii

không chưa tột cùng không

sanh diệt còn vướng lòng

phiền não còn vi tế

đường giải thoát đừng mong

 

*****

còn sanh còn vướng diệt

chẳng diệt lấy gì sanh

sanh diệt tùy thời chuyển

tự tại chẳng diệt sanh

*****

đức tồn không thất thoát

hạnh toàn chẳng sai lầm

đức hạnh làm giới thể

vượt qua khỏi diệt sanh

 

******

vào đời không nhiễm đời

cùng muôn loại khóc cười

người mê ta hằng tỉnh

giúp đời mãi không thôi

 

*****

mười tám cõi xuống lên

lấy đức hạnh làm nền

trong lòng luôn thanh tịnh

lợi lạc khắp muôn tình

    Ví như ta đã đạt viên mãn rồi mà còn tự biết rằng mình đã viên mãn, cảm thấy khoan khoái tự đắc… thì cũng chưa thật sự viên mãn.

   Phải luôn thấy có cũng như không có thì cái có sẽ vô cùng vô tận, sự tiến bộ sẽ mãi mãi không dừng. Ở cảnh giới nào không vướng mắc cảnh giới đó, ung dung tự tại khoan hòa mà vẫn không có tướng khoan hòa tự tại ung dung… Lợi lạc cho tất cả, yêu thương muôn loài. Càng đạt chân hạnh phúc càng từ bi, càng nhẫn nhục, nhẫn vô tận nhẫn, nhẫn vô sanh nhẫn… thì còn gì để nói, còn gì để bàn, bất khả tư nghị vậy. Ai ăn nấy no, tự tu, tự chứng, tự ngộ.

 

 
   


vô vô minh dic vô vô minh tn nãi chí vô lão t dic vô lão t tn

vì mê nên luân hồi

nghiệp chuyển mãi không thôi

hiểu rồi nên bồi đức

huệ sáng thoát luân hồi

 

*****

mười hai duyên điên đảo

ai biết đường nào ra

cứ mê là mê mãi

chừng nào khỏi phiền não

vô minh vô vô minh

ai rõ biết bằng mình

tự tu hằng tự ngộ

giữ đức lập công trình

già chết ai chẳng chết

chết mà được vô sinh

vô sinh ai biết sinh

vượt thoát khỏi mê tình

mười hai duyên xoay chuyển

trí ngu từ đó triển

ngu thời luân hồi mãi

trí thời giúp muôn tình

hết già rồi hết chết

vì mê nên mải miết

hạnh cao nên giải thoát

đức trọng nên bất diệt

    Có người xấu nên mới có hình phạt để răn đe; còn thấy có giới luật là mình còn vướng mắc, cần phải xét xem mình    đang vướng mắc chỗ nào để mà tháo gỡ nó.

    Đầu tiên lấy giới luật làm tiêu chí để sửa tánh, dần dần giới luật trở thành thuộc tính của mình, đức hạnh là giới luật, giới luật là đức hạnh, lúc đó không giới mà tự giới, không lập hạnh mà lúc nào đức hạnh cũng đủ đầy, khi đó không định mà tự định, thời thời định, mọi lúc mọi nơi luôn an định thì huệ sẽ tự phát, chiếu soi không cùng, nhờ chiếu soi không cùng nên thấu rõ mọi lý, nhờ thấu rõ mọi lý nên không còn chấp mê vướng mắc. Còn gì để nói, còn gì để bàn.

  Chúng ta cứ mong cầu định mà quên đi giai đoạn giữ giới lập hạnh thì sẽ mãi mãi không bao giờ bước vào định được. Phải biết giữ giới lập hạnh, tâm thức mới dần dần xả bỏ mọi vọng tưởng thì định lực ngày càng tăng, lo gì không vào được định giới, lo gì trí tuệ không phát sáng. Giới luật là nền tảng của tất cả mọi pháp tu theo chánh đạo.

    Tất cả mọi giới luật đều bao hàm trong ba chữ Chân -  Thiện - Nhẫn, nói năng, hành xử và suy tưởng theo Chân - Thiện - Nhẫn là ta đang giữ giới lập hạnh.

vô kh tp dit đo

buông bỏ hết muôn duyên

mà sự vẫn còn triền

làm sao qua tam giới

giữ tâm thanh tịnh thiền

 

*****

vào khổ để học bài

duyên khởi hằng rõ biết

lý sự diệt chẳng diệt

đạo hạnh vẫn tự nhiên

 

*****

khổ mà không khổ

khởi mà không khởi

diệt không thấy diệt

đạo ấy vẫn như nhiên

 

*****

khổ mà có đức nên không thấy khổ

tập mà lợi chúng nên thường tập

diệt hằng sanh ích nên không diệt

đạo chẳng chấp đạo nên đạo tồn

     Làm thầy thuốc phải biết tùy bệnh mà cho thuốc. Đi trên con đường dưỡng tánh tu tâm cần phải biết rõ trình độ, căn nghiệp của mình mà khéo léo uyển chuyển khi hành pháp.

    Mới chập chững bước vào đường tìm chân hạnh phúc, phải hiểu rõ thế nào là khổ, biết nguyên nhân của sự khổ, biết cách hóa giải khổ đau và thực hành pháp hóa giải đó.

   Vượt qua giai đoạn đó rồi thì khổ không còn là cái cần phải diệt nữa mà nó chính là phương tiện giúp ta giải nghiệp, tiến tu. Càng khổ nhiều, càng tiêu nghiệp càng thêm đức. Càng gặp khổ càng sung sướng và phải biết cảm ơn người đã đem đến khổ đau cho ta. Nghịch cảnh là ân sư, trái ý nghịch lòng là nước cam lồ giúp ta tiêu nghiệp.

   Vì thế trên đường tìm chân hạnh phúc, gặp cảnh trái ý nghịch lòng cũng đừng nên phiền não; nếu còn phiền não chứng tỏ  chưa tiến bộ.

   Vì không thấy khổ nên có gì gọi là khổ; vì không phiền não nên đâu có gì gọi là khổ…Tất cả là do tâm thức vướng mắc nên mới nói đây là khổ, đây là vui, đây là vinh, đây là nhục. Đem tâm thức trở về không không thanh tịnh thì vượt qua tất cả.

 

vô trí dic vô đc

bỏ sự còn vướng lý

viên mãn sao hoàn mỹ

tu thân theo chánh niệm

ấy mới là tuyệt kỹ

 

*****

không trí sao phá mê

có trí sao thanh tịnh

không có tùy duyên khởi

trí ấy là vô trí

 

*****

vô trí mà mê chẳng nên vô

có trí mà tịnh vẫn nên có

có trí vô trí tùy duyên khởi

tu đạo thường hành được vô sự

    Khai trí mở huệ rồi thì còn gì là khổ đau phiền não, còn gì là an lạc bồ đề, tất cả chỉ là phương tiện, tạm dùng ngôn từ để cho chúng sinh từ mê trở về sáng, từ chỗ chưa giác ngộ trở về giác ngộ.

     Mọi pháp trên thế gian đều là vì chúng sinh mê muội.      Mọi pháp không trên thế gian cũng đều là vì chúng sinh mê muội. Người trí vì lợi lạc cho muôn loài mà có lúc dùng pháp , có lúc lại dùng pháp không, miễn sao cho chúng sinh được tỏ ngộ, đó mới là cứu cánh.

   Với chúng sinh đắm chìm trong cái , người trí dùng cái không để uốn nắn lại. Với chúng sinh buông lung mê muội, không phân biệt được tốt xấu, người trí chỉ rõ đâu là thiện, đâu là ác để giúp chúng sinh tỏ ngộ.

    Mọi lời nói, việc làm và suy tưởng của người có trí đều là vì lợi lạc cho chúng sinh. Đây là tiêu chuẩn để đánh giá người có trí hay không. Còn tự tư tự lợi, còn chút xíu gì cho riêng mình thì đó là trí tuệ chưa đầy đủ, chưa viên mãn.

 

theo thời thuận cảnh vẫn tự nhiên

bồi đức lập công chẳng não phiền

dĩ vô sở đắc nên sở đắc

tự tu tự ngộ hết đảo điên

 

*****

danh chẳng vướng

lợi chẳng ham

tình chẳng mê

đức hằng giữ

hạnh hằng tu

trí như ngu

lợi muôn loài

chẳng phân hai

dĩ nhiên theo

dĩ nhiên vậy

dĩ vốn dĩ

dĩ dĩ dĩ

bí!...bỏ!...rõ!...có!...tùy duyên

   Hoa chẳng làm đắm người, tại người mê hoa. Rượu chẳng làm say người, tại người say rượu. Biết như thế thì đừng đổ lỗi cho ngoại cảnh, phải biết tự trách mình, tự sám hối ăn năn, có như vậy mới mong tiến bộ, mọi việc mọi sự đều theo duyên mà đến, theo duyên mà đi, không gì rời khỏi lý nhân duyên nghiệp báo…Thật sự hiểu như vậy thì làm gì có mê đắm, làm gì còn phiền não. Đi đứng nằm ngồi, ăn uống ngủ nghỉ đều tùy duyên. Cần giữ nên giữ, cần buông bỏ thì buông bỏ, không việc gì làm mất đi chánh niệm, không để mê mờ bản chất thanh tịnh của mình…mới đáng gọi là người tìm chân hạnh phúc.

 
   

 

 

 

vô s đc

không chỗ được

mà vẫn được

chẳng thấy mất

vẫn thường mất

sở đắc vô sở đắc

còn tranh còn thắc mắc

ngã nhân chưa buông bỏ

sao là vô sở đắc

được mà không giữ nên hằng được

mất mà không phiền nên chẳng mất

đức hằng tồn

hạnh hằng tu

được tùy duyên

mất tùy duyên

được mất chẳng phiền

vô vô sở đắc

       Người đời luôn ôm ấp cất giữ, luôn tích trữ. Người tìm chân hạnh phúc thì không thế, họ xả bỏ tất cả. Cần phải nhớ xả bỏ trong tâm thức mới là quan trọng. Trong tâm không chất chứa một chút sở đắc nào. Tâm hoàn toàn là không – vô sở hữu, dù cho ở bên ngoài có tất cả vật chất, có tất cả danh lợi tình, tâm vẫn hoàn toàn thanh tịnh. tất cả mà không để cái chi phối mình, mà ngược lại ta làm chủ cái , điều khiển cái để làm lợi lạc cho muôn loài. Nên cái có đó trở thành không - vô sở hữu đối với ta. Buông bỏ ở trong tâm chứ không buông bỏ ở ngoại vật. Chìm đắm luân hồi là do tâm bị mê, bị ngoại cảnh làm cho mê mờ. An lạc thanh tịnh là do tâm giác ngộ, làm chủ được ngoại cảnh. Thế mới nói tất cả là do tâm tạo. Tâm mê nên tạo nghiệp, nghiệp chướng trở lại cột trói tâm, xoay vần qua lại, chỉ cần biết dừng tâm, định ý, ngăn lòng thì sẽ tìm được lối về.

c b đ

bồ đề không gốc vẫn khai hoa

thanh tịnh trí tâm vượt ái hà

tùy duyên lợi chúng lòng không động

bát nhã ba la mật đa ma ha

    Mới bước vào đường tìm chân hạnh phúc cần phải xa lánh mọi việc ác: miệng không nói lời ác, thân không làm việc ác, ý không nghĩ điều ác, lâu dần nhuần nhuyễn, niệm ác sẽ không khởi lên nữa rồi ta sẽ tiếp tục tích góp thiện nghiệp bằng cách: thân làm việc lành, miệng nói lời lành, ý tưởng điều lành, lâu dần niệm lành sẽ hiển hiện nơi tâm.

Tiến thêm bước nữa lời nói việc làm và ý tưởng của ta hoàn toàn thiện lành, thiện lành trở thành bản tánh của ta, ta không còn thấy mình làm việc lành mà vẫn hằng làm lành, ta không thấy mình nói lời lành mà vẫn hằng nói điều thiện lành, ta không thấy mình suy tưởng việc lành mà mọi ý tưởng đều hoàn toàn thiện lành. Lúc đó tâm hoàn toàn thanh tịnh, tiến thêm bước nữa ý niệm cho rằng mình thanh tịnh cũng không còn; tất cả chỉ là vô vi thanh tịnh

 

 

tát đa

tự mình tạo nghiệp tự mình khai

thức giác từ đây rán học bài

rèn mình sửa đức soi gương hạnh

bát nhã tâm kinh phải học hoài

 

*****

lập hạnh… chẳng vương

giúp đời… chẳng vướng

thật lòng khắc kỷ

với người bao dung

tu mãi mãi

tiến vô cùng

vượt chướng ngại

đức viên dung

cùng… biến…thông…minh…

     Nhân nào quả đó, tâm làm thân chịu, tự cột tự mở, chẳng trách được ai, phải biết trách mình vì mê nên mới đọa đày, vì mê nên mới ngày ngày khổ đau. Muốn hết khổ phải phá mê, muốn phá mê phải biết Pháp, muốn biết Pháp phải thấu rõ bản tâm, thấy được thật tướng của bổn tánh. Bởi vì muôn Pháp từ tâm sinh. Hãy chấp nhận khổ đau, nhìn thẳng vào đau khổ, sống với nó, hòa với nó thì sẽ không còn đau khổ. Âm cực tắc dương sinh, trời hết tối lại sáng, cứ thuận theo tự nhiên, thủ đức lập hạnh thì cùng cực sẽ biến thông, thông suốt sẽ minh mẫn.

    Tại sao có khổ đau? Là vì tâm ta không chấp nhận hiện cảnh, nên phiền não khởi lên, khổ đau xuất hiện. Để hóa giải khổ đau phải biết hóa giải tâm thức, sao cho tâm thức phản chiếu ngoại cảnh theo chiều hướng bao dung, tha thứ, thương yêu, chấp nhận tất cả, nhường nhịn tất cả thì khổ đau sẽ mất.

y

y giáo phụng hành

y đức lập ngôn

y hạnh khắc kỷ

y nhiên dĩ thị

y nhơn học bài

y kỷ tự xét

y đời tự tại

y thời thức tâm

 

*****

giúp người cứu vật kết thiện duyên

bỏ mặc khen chê chẳng não phiền

trong lo luyện nhẫn bồi hạnh đức

ngoài kết duyên lành với muôn tình

    Nói năng, làm việc, suy tưởng đều phải có khuôn phép nhất định, nhờ có khuôn phép quy củ, ta mới biết được lời nói, việc làm, suy tưởng của ta có theo chánh đạo hay không. Khuôn phép đó là Chân - Thiện - Nhẫn. Ý nghĩa của Chân - Thiện - Nhẫn vô cùng vô tận. Trình độ tâm thức càng cao thì Chân - Thiện - Nhẫn càng có ý nghĩa diệu huyền. Phải biết học thầy, học bạn, học mọi nơi mọi lúc, phải biết coi mọi chướng duyên oan nghiệt là phương tiện để mình thủ đức lập hạnh. Phải biết cảnh giác trước việc thuận ý vui lòng, không buông lung tâm thức theo thuận cảnh, thường xuyên sống trong chánh niệm, muốn có chánh niệm phải học Pháp cho thấu đáo, muốn học Pháp cho thấu đáo phải biết học bằng tâm, muốn học bằng tâm phải có lòng chân thực thiết tha tìm chân hạnh phúc.

bát nhã ba la mt đa

xét việc đời

thông lý đạo

trí thông thạo

lòng tịnh thanh

vượt muôn tình

dứt phiền não

nhận khảo đảo

thuốc trị tâm

thoát mê lầm

tâm tự tại

muôn sự không ngại

chẳng tình riêng

không lợi mình

không sở hữu

hạnh giữ tròn

đức không mất

     Tụng Kinh, niệm Phật, tham thiền, trì Chú là đang luyện nội lực, đang học lý thuyết, sau đó cần phải nhảy vào đời để trải nghiệm tâm linh, đem lý thuyết mình đã học được ở trên để ứng dụng, từ đó đánh giá được tài và đức của mình tới đâu. Học đạo để bước vào đời, giúp đời tươi đẹp hơn; trường đời giúp ta củng cố đạo tâm của mình, từ đó phát triển đạo lực. Đạo là phương thuốc để trị bệnh tâm, bước vào đời là để uống phương thuốc đó, hóa giải nghiệp tâm.

      Đời mà không đạo, đời sẽ lầm than, khốn khổ mất lối về. Tìm chân hạnh phúc mà không có đời để trải nghiệm thì chỉ là lý thuyết suông, khó lòng viên mãn. Mọi hoàn cảnh của đời khi ta va chạm, sẽ giúp ta thấy được mình đang ở vị trí nào, trình độ thức tâm ra sao, giới hạnh có tròn đủ không?

     Nếu như bước vào đời mà ta có bị rớt cũng đừng chán nản, hãy trở về nhập tu luyện lại đạo lực trong một thời gian rồi sẽ lại hạ sơn đọ sức với ma vương.

 

 

 

c tâm vô quái ngi

nơi danh vọng

tâm không ngại

chốn tình cảm

lòng chẳng vương

chỗ lợi lộc

ý chẳng vướng

hạnh thiện lành

tánh không mê

nói lời phải

miệng không ngại

theo thời theo lúc

lúc làm lúc nghỉ

luôn giữ từ bi

sống trong giới hạnh

không thấy gò bó

lỗi nhỏ vẫn sám

thiện nhỏ vẫn làm

chửi đánh vẫn cam

lòng càng cảm tạ

    Đời được biểu hiện bằng ba chữ danh - lợi - tình. Dù ở trong thâm sơn cùng cốc hay trong chốn thiền môn thanh tịnh mà tâm vẫn bị danh lợi tình chi phối thì coi như ta vẫn đang trong chợ đời, mê đắm trong đó.

   Sống ở giữa chợ đời mà danh lợi tình chẳng nhiễm thì coi như ta đang ở trong chốn thiền môn thanh tịnh vậy.

   Tuy rằng tâm ta không vướng bởi danh lợi tình nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe những biểu hiện của danh lợi    tình thì ta vẫn còn vướng nghiệp đó.

    Một vị tổ đã nói: “sống trong nhà thổ ba mươi năm, tuy lòng thường thanh tịnh nhưng vẫn là phạm tội thanh dâm” là ý nghĩa đó.

   Con chim bay trên trời, con cá lội dưới nước không có gì là tài giỏi mà đó chỉ là định nghiệp.

 

vô quái ngi c

vào biển mê

giúp muôn tình

vô sở đắc

chẳng thấy mình

chẳng phân người

chẳng vướng thời

chẳng kẹt chỗ

vì chẳng vướng

nên không ngại

vì chẳng ngại

nên không lo

vì chẳng lo

nên tự tại

    Vào hàng cá thịt không động chạm đến thịt cá nhưng vẫn phải chịu mùi tanh hôi, tức là vẫn còn chịu nghiệp chi phối. Ở giữa chợ đời không nhiễm đời nhưng vẫn phải chịu ảnh hưởng của nghiệp đời… Chư Bồ tát biết như vậy nhưng vì lợi lạc cho muôn loài, các ngài với hùng tâm dũng chí, không ngại khó khăn, không sợ mất đi năng lượng, vẫn lăn xả vào đời giúp chúng sanh giác ngộ. Thật ra khi Bồ tát làm như vậy, dưới mắt thế gian thấy các ngài bị khổ nhọc tiều tụy thân xác nhưng tâm linh ngài vẫn tỏa sáng, quả vị của các ngài cũng đang tăng cao. Sen chỉ mọc trong bùn là ý thế.

vô hu khng b

không chấp ta nên chẳng lo

không chấp người nên chẳng buồn

không chấp danh nên tự tại

không chấp không nên còn mãi

siêu việt thời nên sống hoài

chẳng danh lợi sắc tài

tám gió chẳng thổi lay

hằng thông hằng minh

thường rõ tâm mình

có gì vô minh

Ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù ô trược hay thanh cao mà tâm bị dính mắc vào hoàn cảnh đó thì vẫn chưa được giải thoát viên mãn. Trong đời không mê đời, trong đạo không chấp vào đạo, luôn thanh tịnh tự tại, khí tượng như chim phượng hoàng thì có gì mà lo lắng, có gì mà sợ hãi. Thấy rõ bản tâm, trực ngộ tự tánh, hằng sống với tánh tâm thanh tịnh thì mới có thể lợi lạc cho muôn loài.

vin ly điên đo

không ham danh

nên chẳng vướng danh

chẳng thích lợi

nên chẳng vướng lợi

không mê tình

nên chẳng đắm tình

chẳng thủ xả

nên chẳng nhân ngã

không thị phi

nên không khẩu nghiệp

chẳng điên đảo

nên thường thanh tịnh

chẳng cầu mong

nên không thất vọng

chẳng tiếc quá khứ

chẳng trông tương lai

tự nhiên hiện tại

điên đảo viễn ly

suy !

   Vì mê nên mới có điên đảo, vì nhiễm danh lợi sắc tài nên mới trầm luân khổ ải. Hiểu rồi tự giác buông bỏ trong tâm thức, tâm không không sở hữu thì làm gì có đảo điên, làm gì có khổ ải trầm luân?

    Sướng hay khổ, vinh hay nhục chẳng qua chỉ là biểu hiện của tâm thức chứ không phải do ngoại cảnh làm ta sướng khổ nhục vinh. Người trí biết thế nên khéo điều tâm phục ý, chứ chẳng mong cầu thay đổi ngoại cảnh. Tướng tùy tâm mà chuyển, cảnh tùy tâm mà sinh; tất cả là do tâm thức. Càng mở rộng tâm thức, ta sẽ càng ung dung tự tại. Tâm thức eo hẹp bao nhiêu thì khổ  đau sẽ theo ta nhiều bấy nhiêu. Thế nên, hãy chuyển tâm không cần chuyển cảnh, hãy tìm thanh tịnh ở nơi động loạn, hãy tìm an lạc ở chốn nhục vinh. Xin nhớ điều đó.

mng tưởng cu cánh

còn thấy mình tu

là chưa thật tu

còn thấy thủ đức

là chưa đủ đức

còn thấy lập hạnh

là hạnh chưa cao

còn thấy có rào

là còn sợ hãi

 

*****

còn bay còn nhảy

là còn gây nghiệp

còn trông còn đợi

là còn phiền não

càng mong kết quả

kết quả càng xa

lòng càng cầu tìm

tìm hoài chẳng gặp

chấp nhận điên đảo

lại chẳng đảo điên

cứu cánh, phương tiện

chẳng có tư riêng

lấy chi mộng tưởng

lòng không chấp vướng

không sướng chẳng khổ

không nhục chẳng vinh

không cảm chẳng tình

không nhân không ngã

không thủ không xả

lòng không tất cả

sự vẫn thường hằng

thế sự lăng nhăng

trí hằng định tĩnh

biển tình sóng cuộn

tánh vẫn an nhiên

mộng tưởng đảo điên

còn gì trong đó

tâm không - bỏ ngỏ

thiện sự hằng làm

   Không mong sẽ được, không tìm sẽ thấy là nhờ ở người tìm chân hạnh phúc thấu rõ nguồn tâm, khéo điều phục tánh, việc gì cũng xét lại mình, không đổ lỗi cho người, không than phiền ngoại cảnh, chỉ biết trách ta kém hạnh, thiếu đức, nghiệp dày, phước mỏng… Làm được như vậy con đường tìm chân hạnh phúc không đi mà đến, quả lành tự hiện.

niết bàn

lỗi nhiều ắt đọa

đức nhiều thăng hoa

ấy là hai nẻo

người tu khéo chọn

giữ đức lập hạnh

chỉ mong sửa tánh

tánh nhẹ tâm an

lòng thanh trí tịnh

thiện sự quân bình

tùy thời mà nói

tùy lúc mà làm

chẳng vọng chẳng tham

giúp người lập hạnh

là giúp mình thành

chẳng mong quả lành

quả lành tự hiện

trí hằng phân biệt

tâm vẫn an nhiên

bao dung cùng khắp

tình chẳng tư riêng

được không tự mãn

nên vẫn hằng được

mộng tưởng niết – bàn

niết – bàn ảo huyễn

không cầu niết – bàn

niết – bàn tự hiện

quân bình tự nhiên

     Niết bàn ở đâu? Niết bàn ở trong tâm và cũng ở ngoại cảnh. Khi tâm an lạc thanh tịnh hằng có hằng không, tùy duyên lợi người lợi vật, giúp muôn loài tiến hóa là ta đang sống trong niết bàn tự tánh.

   Trong vũ trụ bao la, có âm có dương, có thanh có trược, có động có tịnh,…Khi tự tánh của ta thanh tịnh ở trình độ nào, lúc viên mãn ta sẽ về cảnh giới của tự tánh đó và đấy chính là niết bàn của mỗi hành giả. Sự thanh tịnh càng cao thì cảnh giới niết bàn càng siêu việt. Bồ Tát có niết bàn của Bồ Tát, La Hán có niết bàn của La Hán, Phật có niết bàn của Phật, ma quỷ cũng có niết bàn của ma quỷ, niết bàn của ma quỷ là cảnh giới tối tăm, đau khổ, là bàn chông, chậu máu, là núi lửa rừng đao…Trình độ tâm thức nào có cảnh giới niết bàn của tâm thức đó.

 

tam thế chư Pht

từ vô lượng

bi vô biên

hỷ vô cùng

xả vô tận

bước vào biển khổ

phổ độ muôn tình

hằng giúp chúng sinh

tâm mình chẳng ngại

giúp không thấy giúp

cho không thấy cho

cứu không thấy cứu

làm chẳng thấy làm

tham mà chẳng tham

mê vẫn chẳng mê

chẳng sợ ê chề

chẳng phân nhân ngã

một lòng hỷ xả

tám gió sợ chi

học chữ từ bi

muôn đời hỷ xả

đức hạnh thăng hoa

gọi là chư Phật

Phật mà chẳng Phật

gọi là Giác giả

giác mà chẳng giác

tự mình sáng tỏ

    Phật là từ bi hỷ xả, Phật là quân bình tự tại, Phật là giác ngộ tự tánh, là không nhiễm ô, là luôn lợi lạc cho muôn loài. Hãy tự xét lại mình để biết rằng mình là Phật hay ma.

     Vào đời mà không nhiễm đời, vì lợi lạc cho muôn loài mà dấn thân vào đời. Chấp nhận mọi khổ đau từ đời đem đến, miễn sao cho đời được hạnh phúc, được giải thoát viên mãn, đó là bản nguyện của chư Phật.

    Phật là cái đích để người tìm chân hạnh phúc hướng tới;  Phật là lý tưởng cao thượng để noi theo.

    Bất kỳ lý tưởng nào chỉ cần thanh cao, siêu việt, lợi lạc quần sinh, giúp chúng sinh siêu xuất tam giới, vĩnh viễn thoát luân hồi thì lý tưởng đó đại diện cho Phật giới.

y bát nhã ba la mt đa

nương huệ trí

vượt biển mê

nhờ đức lớn

sẽ thăng hoa

lập hạnh lành

giúp tất cả

chẳng ta người

không khen chê

     Dù đời hay đạo, nếu không có trí thì đều thất bại. Muốn có trí thì cần phải học – hiểu – hành.

    Học là nghiên cứu, tìm tòi nơi Kinh Pháp nơi giáo lý, nơi thầy tổ, nơi bạn bè, nơi ngoại cảnh.

     Hiểu là nhận thức rõ, nắm vững được đối tượng mà mình đang học hỏi nghiên cứu.

    Hành là thực hành, là trải nghiệm tâm linh, đem những gì mình nghiên cứu áp dụng vào thực tế, rèn giũa tánh tình, từ động loạn thành thanh tịnh, từ ô trược trở nên thanh cao.  Rồi đem trải nghiệm tâm linh của mình mà khơi đuốc huệ cho những người hữu duyên.

Học – hiểu – hành, không thể thiếu một trong ba, nếu thật sự muốn tiến tới chân hạnh phúc.

 
   

 

 

c đc a nu đa la tam miu tam b đ

vì không thấy có nên thường có

vì tâm không mê nên trí sáng

vì lòng không loạn nên tánh thăng

vì tình không nhiễm nên siêu việt

làm muôn hạnh lành không kể công

giữ tròn giới hạnh không tự mãn

lợi lạc muôn tình không mong thưởng

chẳng cầu danh, trí thường sáng

chẳng mong lợi, dũng thường hằng

chẳng vướng tình, bi thường tồn

người được là mình được

người mất là mình mất

giúp người sửa tánh là giúp mình lập hạnh

    Trên đường tìm chân hạnh phúc, nhờ vào học - hiểu – hành, nơi bản thể muốn phát triển cần có tinh – khí - thần, không gian vũ trụ nhờ có nhật - nguyệt - tinh mới xoay chuyển bốn mùa tám tiết. Phật có tam bảo: Phật, Pháp, Tăng; Chúa có ba ngôi: Cha, Con, Thánh Thần. Người tìm chân hạnh phúc muốn tiến bộ phải điều phục ba nghiệp thân, ngữ, ý (việc làm, lời nói, tư tưởng).

    Người đời còn nói, ba cây chụm lại nên hòn núi cao là ý vậy.

   Trên đường tiến tới đích, nếu có gặp chông gai trở ngại, thậm chí té ngã vài lần, cũng đừng nên nản chí. Hãy nhìn vào thất bại của mình mà học thêm kinh nghiệm để vững bước tiến lên. Tâm thức càng cao, khảo nghiệm càng tế vi, nếu không tỉnh giác, dễ bị sa ngã, luôn luôn nhớ đến Chân - Thiện - Nhẫn để điều chỉnh lại thân, ngữ, ý của mình.

c tri bát nhã ba la mt đa

biết nhiều mà không vướng

có nhiều mà không ỷ

hiểu nhiều mà không loạn

tỉnh nhiều nên không mê

đức nhiều vẫn thường bồi

hạnh toàn vẫn thường lập

thanh tịnh

tự tại

vô ngại

không nói mà thường làm

không hay mà thường biết

không hiểu mà thường rõ

không tình mà thường cảm

không ứng mà tự ứng

không nguyện vẫn tự nguyện

không giác vẫn tự giác

vượt thế tình

siêu ba cõi

ai thoát khỏi

y bát nhã

qua tất cả

     Học – hiểu – hành mà vẫn không vướng mắc trong học – hiểu – hành, phải biết biến thông, phải biết hiểu lý, rõ sự, phải quyền biến thì sự tiến tu của ta mới mãi mãi đi lên. Trí tuệ phải nhạy bén, muốn trí tuệ nhạy bén, tâm thức phải thanh tịnh, muốn tâm thức thanh tịnh phải biết xả. Muốn xả thì tâm thức phải xem thường sự việc, trong lòng phải không quan trọng quan trọng hóa bất cứ vấn đề gì nhưng vẫn phải hoàn thành tốt mọi việc, đối xử tốt mọi người, phải giới hạnh đủ đầy. Xả trong tâm chứ không phải xả ở ngoại cảnh. Người có mười đồng mà tâm keo kiệt bủn xỉn không dám cho ra thì tâm thức rất kém so với người có cả triệu đồng mà sẵn sàng đem số tiền đó làm lợi lạc cho đời cho người.

 

th đi thn chú

lòng kiên định

tâm chánh niệm

bỏ hết tham cầu

thoát ra dục giới

vượt hết thế tình

thần chú uy linh

chẳng còn dục tính

thường niệm thường hành

thường hành thường giải

thường giải thường thông

thường thông thường đồng

thường đồng thường cảm

thường cảm thường ứng

ứng vô sở ứng

bát nhã ma ha

     Làm việc với chánh niệm, lòng kiên định không để bất kỳ sự việc gì cản trở, không để tâm vướng mắc vào thất tình lục dục, bộ đầu thanh nhẹ, ngũ tạng lục phủ khai thông thì lời nói việc làm và sự suy tư của ta tương đương với lời nói, việc làm và sự suy tư của một vị thần, lúc đó không gì là không cảm, không gì là không ứng.

    Muốn được vậy, ta phải thấu triệt được bản chất thật sự của tâm. Tất cả những niệm tưởng dù là thiện, ác hay chẳng thiện chẳng ác đều là vọng tưởng, cũng như lớp sóng trên mặt nước, phải loại bỏ những niệm tưởng đó đi thì bản chất thật sự của tâm sẽ hiển lộ.

   Làm sao thấy được bản chất thật sự của tâm? Ta có thể làm như sau: hãy lắng nghe một âm thanh liên tục nào đó ngân nga vang vọng mãi không dứt, ví dụ như tiếng thác đổ, tiếng suối reo, tiếng mưa rơi hay âm thanh niệm Phật…Ta hãy để tâm hòa nhập vào âm thanh đó rồi bất chợt hãy làm ngưng âm thanh đó, ngay lúc ấy tâm ta thấy một sự rỗng rang vắng lặng. Chính cái rỗng rang vắng lặng đó là bản chất thật sự của tâm mình. Nếu ta không kịp nhận được cái rỗng rang vắng lặng này thì các niệm tưởng lại khởi lên và ta lại bị cuốn theo vòng vọng tưởng đó.

    Trong Kim Cương Thừa cũng trình bày cho ta thấy cách chiêm nghiệm được bản chất của tâm qua các giai đoạn của niệm tưởng, cảm xúc:

  • Khi một ý tưởng, cảm xúc khởi lên, nó sẽ dần dần rơi vào im lặng, chìm sâu vào bản chất của tâm. Sự im lặng này chỉ thoáng qua.
  • Từ sự vắng lặng này của tâm lại khởi lên một năng lượng vận động.
  • Năng lượng vận động này khiến một tư tưởng, cảm xúc khác lại khởi lên, sau đó lại tan biến.
  • Quá trình tiếp tục diễn biến: sinh, diệt, sinh…
  • Nếu ta kịp nhận thức được chỗ vắng lặng đó và sống với nó, kéo sự vắng lặng đó dài ra, lâu dần tâm thức ta sẽ trở về được với bản chất của nó.

 

th đi minh chú

không phân ta người

nên chẳng khen chê

không vướng lợi danh

nên không tật đố

tình riêng không nhiễm

trí hằng sáng soi

vượt qua sắc giới

nhờ chú đại minh

minh nhờ thông

thông nhờ suốt

suốt bởi nguồn

nguồn nơi tâm

tâm là Đạo

tâm là Phật

tâm là minh chú

bát nhã ma ha

    Khi sống được với bản chất yên lặng của tâm thức, tâm ta sẽ thanh tĩnh, ta ở trong trạng thái như định như không, tâm an tĩnh mà hằng chiếu tỏ, nhận thức rõ mọi sự biến dịch nơi tâm và ngoại cảnh nhưng vẫn không mất đi sự an lặng của chính mình, lúc đó gọi là huệ nhật tự chiếu hay thị đại minh chú.

     Để đạt được minh chú, ta phải qua giai đoạn thần chú, tức là nhận rõ được bản tánh thanh tịnh của mình.

 

th vô thượng chú

thần chú cao tột

dứt hết nghĩ suy

tâm chẳng vướng gì

trí luôn an tịnh

tánh vẫn thường minh

lòng bi vẫn đủ

hỷ xả vô cùng

vượt vô sắc giới

vẫn không thấy vượt

chẳng an mà an

không định mà định

thần chú vô thượng

bát nhã ma ha

    Thấy được bản chất thanh tịnh của mình và sống với nó, nhưng ta vẫn còn có cái thấy đó và nhận biết mình đang sống với nó thì như vậy vẫn chưa lên cao tầng.

   Cái thấynhận biết đó cũng phải tan biến đi, chỉ còn lại sự vắng lặng chiếu soi, thường an tịnh mà vẫn thường chiếu tỏ, thường không không mà vẫn thường có có

 

 

th vô đng đng chú

thần chú siêu tuyệt

chẳng thể nghĩ bàn

vũ trụ mênh mang

nhẹ nhàng siêu xuất

thường còn chẳng mất

thường trí chẳng mê

thường về chẳng lại

thường thông chẳng ngại

càn khôn vĩ đại

chẳng ngại chân đi

đẳng chú uy nghi

dễ gì đạt thấu

thượng trí mong cầu

dễ gì có được

vô trí không cầu

tự có hằng nhiên

siêu xuất siêu nhiên

phi thường vĩ đại

linh chú vô ngại

bát nhã ma ha

    Lên cao nhất cũng chính là xuống thấp nhất, cực tịnh cũng chính là cực động, không một ý niệm móng khởi mà vẫn hằng khởi ý niệm, thường khởi niệm mà vẫn thường tịnh, trong tịnh mà hằng rõ biết, không cao thấp, không nhân ngã, không thị phi, cái không cũng không nốt, không đến vô cùng vô tận thì có cũng vô tận vô cùng. Tự diệu tự ngộ, tự tu tự chứng, siêu tuyệt ngữ ngôn, vượt khỏi ý lời.

năng tr nht thiết kh

khổ đau tự tâm sanh

phiền não do ý hành

khổ đau phiền não dứt

nhờ ý tâm siêu tuyệt

 

*****

vô trụ vô chấp

vô sở hữu

vô vô sở hữu

thiệt không lại không

thiệt có lại có

không không có có

có có không không

trí minh tâm tỏ

tự diệu tự ngộ

từ bi rộng mở

còn chi là khổ

còn khổ còn diệt

không khổ diệt gì

    Trong tâm chấp nhận tất cả và xả bỏ tất cả thì chẳng còn gì gọi là khổ hay sướng. Vinh nhục, sướng khổ chỉ là những khái niệm mà tâm mê mờ cứ ôm giữ nên mới hình thành sướng khổ nhục vinh.

    Mọi sự mọi việc, mọi pháp, mọi niệm tưởng đều là như vậy, như vậy. Sống trong cõi tương đối thì phải có đủ nhục vinh, được mất... chỉ vì mê, không thấu rõ được bản chất thanh tịnh của tâm nên mới bị mọi hiện tượng biến chuyển trong tâm và ngoại cảnh cuốn lôi. Cần phải biết dĩ bất biến ứng vạn biến.

    Cái bất biến chính là sự thanh tịnh thường hằng của tâm; cái vạn biến là mọi ứng hiện nơi tâm và ngoại cảnh.

     Chưa đạt được như vậy thì cần phải coi sướng khổ vinh nhục là những bài học luyện tâm. Luyện tâm để thấy được tâm, thấy được tâm rồi, bài học tự khắc sẽ hết.

chơn thit bt hư

chơn đức tự siêu

chơn hạnh tự giải

chơn tu tự ngộ

chơn hành tự giác

chơn ý tự minh

chơn tình chẳng nhiễm

chơn lý chẳng suy

siêng đi sẽ đến

 

*****

thiệt tu sửa tánh

thiệt hành tự tâm

thiệt ngộ tự minh

thiệt mình chẳng mất

thiệt tình chẳng ngại

thiệt tế vô biên

      Vàng thật không sợ lửa, thật tâm muốn tìm chân hạnh phúc, thật tâm muốn tìm lại sự an lạc vĩnh hằng thì ta rất dễ dàng phá bỏ mọi vướng mắc mọi chấp trước. Chỉ sợ lòng không muốn, hễ muốn, muốn tha thiết thì kết quả không đạt được ngay cũng sẽ dần dần đạt được. Đừng đổ lỗi tại ngoại cảnh, đừng viện dẫn bất cứ lý do gì để nói rằng cái này khó bỏ, cái kia khó buông, chỉ sợ tâm không muốn mà thôi. Thế mới nói chân thiệt bất hư.

c thuyết bát nhã ba la mt đa chú

rèn lòng sửa tánh đắc Phật Tiên

chẳng nhiễm lợi danh chẳng não phiền

biển tình sóng cuộn không ngụp lặn

nương vào huệ trí giải oan khiên

 

*****

thật tu

nương trí

giả tu

cậy tình

chân thiện

theo hạnh

chân hạnh

theo giới

chân giới

theo tâm

chân tâm

vô sở hữu

ba la mật

siêu tam giới

vượt càn khôn

giữ xác hồn

nương đức hạnh

đức thường tồn

hạnh thường cao

khó nào cũng đạt

khổ nào cũng qua

       Sống trong đời, làm tròn trách vụ ở đời, làm thật tốt thật giỏi, mọi giới hạnh không để mất, mọi lỗi lầm không để vướng, không chút vị , chỉ biết vị công. Nói gì, nghĩ gì, làm gì cũng đều vì đem lợi lạc cho người cho vật, hiểu được rõ: lợi lạc cho muôn loài chính là lợi lạc cho mình, cho đi tức là nhận lại, càng buông bỏ càng có nhiều, đức không để tổn, hạnh ngày càng cao, vô cùng vô tận, vô biên vô tế.

 

tc thuyết chú viết

nói làm nghe nghĩ

không để đức suy

thanh tịnh từ bi

tức thì đạt nhẫn

nhẫn vô tận nhẫn

siêu việt càn khôn

vĩnh viễn thường tồn

tâm vô sở hữu

trí vô quái ngại

lòng không – tự tại

phải trái rõ phân

ý không vọng động

tình không đa mang

làm không khoe khoang

thân được nhẹ nhàng

không màng vinh nhục

vượt hết thế tình

tâm chú oai linh

    Tâm thức đã ở cảnh giới siêu tuyệt nhưng bản thể vẫn còn sinh hoạt trong tam giới nên vẫn phải thường phản tỉnh, không được buông lơi, vẫn nhận rõ thiện ác nhưng không vì thiện ác mà vọng tưởng. Làm tất cả mọi thiện lành vẫn không màng kết quả. Sống giữa chợ đời nhưng tâm thức vượt trên hẳn mọi thế tình.

yết đế yết đế

chịu đi sẽ đến

chịu tìm sẽ gặp

trí hằng sáng

không trở ngại

tâm hằng tịnh

giải mê tình

ý cương quyết

được siêu sinh

thường sửa hạnh

phiền não khinh

qua tất cả

cũng do mình

Khi trong lòng có chút gì tự mãn hay tự cho mình là thế này thế kia thì sẽ vướng mắc, dù thành Phật mà cho rằng mình đã là Phật thì sẽ rớt; phải biết buông bỏ tức là nắm giữ, thực không sẽ thực có, từng chặng từng chặng đều vượt qua, không đứng lại, vướng mắc ở bất kỳ cảnh giới nào, tâm thức linh hoạt vô cùng vô tận, cảnh giới cũng vô tận vô cùng. Đã qua rồi lại qua nữa, qua đến vô cùng mới gọi yết đế yết đế.

 
   

 

ba la yết đế

chấp nhận mọi hoàn cảnh

tâm vẫn thường tự tại

hy sinh mọi quyền lợi

lòng vẫn không e ngại

chuyên giữ đức lập hạnh

tánh vẫn thường tự xét

bỏ nơi tâm

không bỏ cảnh

không nơi lý

có nơi sự

tâm cảnh không phân

lý sự vẫn đồng

tâm chuyển cảnh

lý dắt sự

thông sẽ minh

minh sẽ ngộ

ngộ không vướng ngộ

tiến bộ vô cùng

yết đế ba la

     Vạn pháp là dịch, là biến thông. Đứng lại là tự hủy mình, dậm chận tại chỗ chính là thụt lùi. Động tịnh là một, tịch chiếu không hai có âm có dương, có động có tịnh, đồng tương hỗ nhau trong đối nghịch. Chỉ cần tâm thức nhận rõ, không mê mờ, dù ở bất kỳ cảnh giới nào thì sự tiến bộ sẽ mãi mãi nên mới gọi yết đế ba la vượt qua tất cả.

ba la tăng yết đế

 

không

tuyệt không

hằng có

tuyệt có

thường không

tùy duyên tùy cảnh

tùy lý tùy sự

tùy nhân tùy quả

không gượng ép

chẳng truy cầu

không mong được

chẳng sợ mất

không cầu đắc

chẳng sợ loạn

giữ đức lập đức

bồi hạnh lập hạnh

đức hạnh viên dung

siêu xuất tột cùng

    Hằng vượt qua tất cả mà vẫn không bỏ rơi bất kỳ một việc gì nhỏ nhặt. Không thấy có giới hạnh mà không có hạnh giới nào không giữ. Không thấy có thiện ác mà không thiện nào là không làm, không ác nào là không tránh. Không thấy có khổ đau mà vẫn hằng từ bi thương xót giúp đỡ muôn loài. Không để mất đức mà vẫn không thấy có đức. Thường xuyên lập hạnh mà vẫn không thấy có hạnh thường lập. Nói lời lành, làm việc lành, nghĩ việc lành mà vẫn không vướng vào lời lành đang nói, việc lành đang làm, niệm lành đang suy tưởng.

b đ tát bà ha

tâm chẳng vướng gì

thân đi vào chợ

vượt mọi e sợ

nhắc nhở thế tình

bát nhã tâm kinh

tự mình giác ngộ

tự soi tự rõ

tự hành tự độ

tự độ độ tha

tha tự hài hòa

ba la yết đế

bồ đề tát bà ha.

     Xe có xăng nhớt mới có thể chạy được, muốn cứu đời giúp người, mình phải có đủ năng lực. Hãy tự xét lại mình, tự kiểm thảo lấy mình, thấy rõ mình đang ở vị trí nào. Làm, nói, nghĩ, đều ở trong thiện lành, nơi cảnh giới tâm thức của mình. Không ngại khen chê, chẳng màng sướng khổ, chẳng sợ nhục vinh, chỉ cần nhận biết mình thật sự là ai, đang ở vị trí nào và sống trọn vẹn với vị trí đó thì không cầu tiến mà tiến, không mong được mà được.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                         

 

Bát nhã hành tụng tổng yếu

 

bát nhã tâm kinh

phổ độ muôn tình

mỗi người trình độ

tự giác tự minh

tự hành tự tiến

bao gồm bốn chữ:

chân hnh

thit hành

bt đon

hư như

“chân thit bt hư”

thượng căn đốn ngộ

hành khởi giải tuyệt

k!

trung căn tiệm tu

phân biệt thiện ác

định rõ mê ngu

tiệm hành tiệm tiến

hạ căn ngu phu

đọc xong buồn ngủ

phương tiện giải sầu

kết duyên cùng Phật

luân hồi vài kiếp

Phật tiếp siêu sinh.

*****

li kết

bát nhã trí

đại bi tâm

trí tâm xuyên suốt hết mê lầm

đi đường thẳng

đức hạnh dày

bao nhiêu ma nạn sẽ giải vây

theo lý trí

dựa từ tâm

lý tình thông suốt chẳng ngoại xâm

luôn thủ đức

luôn giới hạnh

đức hạnh viên dung chẳng tranh cạnh

yết đế ba la

dũng mãnh vượt qua

mới là chơn trí

không theo cảnh

chẳng mê tình

dùng tâm chuyển cảnh sẽ siêu sinh

bồ đề không gốc

gương sáng chẳng đài

bổn lai ai rõ

ắt được liên đài

bồ đề tát bà ha.

trân trng.

(Thiên Tùng – Nguyễn Trung Long)

Chú ý: Vì trình độ của người viết còn hạn chế, nên nội dung quyển sách này chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết. Kính mong các bậc cao minh chỉ bảo thêm. Mọi góp ý xin liên lạc: 0908916039. Hoặc tìm hiểu thêm qua các trang mạng:

vn.minghui.org  -  tindaiphap.net  -  phapluan.org

 

PHỤ LỤC

BÁT NHÃ HÀNH TỤNG TỨ GIẢN ĐỒ

 

 
   


                                         (Đồ hình1)

 

                                   

nương lời đạt ý

nương sự thấu lý

bát nhã hành tụng giải mê si

đọc rồi hành

hành rồi giải

tâm thông đạt lý huệ trí khai

 

(Đồ hình 2)

 

 
   

 

 

 

đạt chân bỏ giả

chẳng còn nhân ngã

chẳng sợ khen chê

quang minh chiếu tỏa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Đồ hình 3)

 
   


đạt không thấy đạt

tâm pháp hư như

thánh chẳng như

phàm chẳng hư

duyên kết thừa trừ

chân thiệt bất hư

kệ !

 

 

 

 

 

 

  

  

 

BÁT NHÃ TỨ GIẢN ĐỒ

 
   

 

 

 

 
   

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                        

     
     
 
   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                        

Nguồn: THIÊN MINH Ngày đăng: 17/09/2017 17:00:02

Bình luận: